1/54
Looks like no tags are added yet.
Name | Mastery | Learn | Test | Matching | Spaced | Call with Kai |
|---|
No analytics yet
Send a link to your students to track their progress
1858
Thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam tại Đà Nẵng.
1862
Triều đình nhà Nguyễn ký Hiệp ước Nhâm Tuất với Pháp.
1874
Triều đình nhà Nguyễn ký Hiệp ước Giáp Tuất với Pháp.
1883
Triều đình nhà Nguyễn ký Hiệp ước Hác-mang (Harmand).
1884
Triều đình nhà Nguyễn ký Hiệp ước Pa-tơ-nốt (Paténotre) => Việt Nam chính thức biến thành nước thuộc địa nửa phong kiến.
Từ 1858 đến cuối thế kỷ XIX
Xã hội Việt Nam hình thành 2 mâu thuẫn cơ bản: Toàn thể nhân dân VN – Thực dân Pháp xâm lược (Mâu thuẫn chủ yếu, bao trùm). Nông dân – Địa chủ phong kiến.
Ngày 19/5/1890
Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung).
1905
Nguyễn Tất Thành theo cha vào Huế, học trường Tiểu học Pháp - Bản xứ, lần đầu tiếp xúc với khẩu hiệu 'Tự do - Bình đẳng - Bác ái'.
1905 - 1909
Phong trào Đông Du do Phan Bội Châu khởi xướng (xu hướng phong kiến/tư sản dựa vào Nhật - Bác phê phán: 'Rước hổ cửa trước, rước beo cửa sau').
1906 - 1908
Phong trào Duy Tân do Phan Châu Trinh khởi xướng (xu hướng cải cách dựa vào Pháp - Bác phê phán: 'Chẳng khác gì xin giặc rủ lòng thương').
Tháng 3/1907 - Tháng 11/1907
Phong trào Đông Kinh nghĩa thục do Lương Văn Can và Nguyễn Quyền sáng lập.
1908
Phong trào chống đi phu, chống sưu thuế nổ ra ở Trung Kỳ (Nguyễn Tất Thành có tham gia ủng hộ đồng bào).
1910
Nguyễn Tất Thành làm thầy giáo tại Trường Dục Thanh (Phan Thiết), truyền thụ lòng yêu nước cho học sinh.
1911 (Bối cảnh thế giới)
Cách mạng Tân Hợi tại Trung Quốc do Tôn Trung Sơn lãnh đạo thành công, đề ra Chủ nghĩa Tam Dân (Dân tộc độc lập, Dân quyền tự do, Dân sinh hạnh phúc).
Ngày 5/6/1911
Nguyễn Tất Thành lấy tên là Văn Ba, rời bến cảng Nhà Rồng trên tàu Đô đốc Latouche-Tréville, bắt đầu hành trình tìm đường cứu nước.
Ngày 6/7/1911
Tàu cập bến và Người dừng chân đầu tiên tại các cảng của nước Pháp (Marseille và Le Havre).
Cuối năm 1912
Người đặt chân đến nước Mỹ, trực tiếp quan sát cuộc cách mạng tư sản Mỹ (1776) và bản Tuyên ngôn Độc lập Mỹ.
Đầu năm 1913
Người rời Mỹ sang nước Anh, tham gia các hoạt động lao động kiếm sống và học tiếng Anh.
Cuối năm 1917 (Hai sự kiện lớn)
Thế giới: Cách mạng Tháng Mười Nga thành công (Mở ra thời đại mới, Bác coi là sự kiện vĩ đại nhất đầu TK XX). Hành trình Bác: Bác từ Anh quay trở lại Pháp, tham gia phong trào công nhân và thành lập Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp.
Ngày 2/3/1919
Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) được thành lập tại Mátxcơva, trở thành Bộ Tham mưu lãnh đạo phong trào cách mạng thế giới.
Năm 1919 (Gia nhập Đảng)
Người gia nhập Đảng Xã hội Pháp vì tổ chức này ủng hộ cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa.
Ngày 18/6/1919
Thay mặt những người Việt Nam yêu nước, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, gửi 'Bản yêu sách của nhân dân An Nam' gồm 8 điểm tới Hội nghị Vécxây (Versailles).
Ngày 16 và 17/7/1920
Nguyễn Ái Quốc đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin đăng trên báo Nhân đạo => Tìm thấy con đường giải phóng dân tộc: Con đường Cách mạng vô sản.
Từ ngày 25 đến 30/12/1920
Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội Tua (Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp), bỏ phiếu tán thành Quốc tế III và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.
Ý nghĩa cốt lõi của mốc 12/1920
Bước ngoặt đánh dấu sự chuyển đổi về chất trong tư tưởng Nguyễn Ái Quốc: Từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Lênin, từ người yêu nước trở thành người cộng sản.
Năm 1921
Tham gia sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa tại Pháp nhằm đoàn kết các dân tộc bị áp bức.
Năm 1922
Làm Trưởng Tiểu ban nghiên cứu vấn đề dân tộc thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp; sáng lập và làm chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Le Paria (Người cùng khổ).
Tháng 6/1923
Nguyễn Ái Quốc bí mật rời nước Pháp đi Liên Xô (Mátxcơva) để tham dự Hội nghị Quốc tế Nông dân và Đại hội V Quốc tế Cộng sản.
Tháng 11/1924
Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô về Quảng Châu (Trung Quốc) để trực tiếp xây dựng lực lượng, chuẩn bị thành lập tổ chức cách mạng.
Năm 1925
Xuất bản tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” tại Paris bằng tiếng Pháp (tố cáo tội ác thực dân, thức tỉnh thuộc địa).
Tháng 6/1925
Sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và xuất bản tờ báo Thanh niên (tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam).
Năm 1927
Xuất bản tác phẩm “Đường kách mệnh” tại Quảng Châu – tác phẩm chuẩn bị toàn diện về chính trị, tư tưởng, tổ chức cho sự ra đời của Đảng.
1928 - 1929
Bí mật sang hoạt động tuyên truyền, xây dựng cơ sở cách mạng trong Việt kiều tại Thái Lan.
Từ ngày 6/1 đến ngày 7/2/1930
Chủ trì Hội nghị hợp nhất tại Hương Cảng (Trung Quốc), thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua Chánh cương, Sách lược vắn tắt (Cương lĩnh chính trị đầu tiên do Người soạn thảo).
Tháng 10/1930
Đảng đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Cương lĩnh đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc bị phê phán sai lầm là 'hữu khuynh', 'dân tộc chủ nghĩa' (do Quốc tế Cộng sản lúc này nặng về đấu tranh giai cấp).
Ngày 6/6/1931
Nguyễn Ái Quốc bị cảnh sát Anh bắt giam trái phép tại Hồng Kông dưới cái tên Tống Văn Sơ (Thử thách khắc nghiệt đầu tiên trong tù).
Tháng 7/1935
Đại hội VII Quốc tế Cộng sản tại Mátxcơva tự phê phán khuynh hướng “tả khuynh”, chủ trương thành lập Mặt trận nhân dân chống phát xít (Khẳng định quan điểm tập hợp lực lượng dân tộc của Bác là đúng).
1934 - 1938
Bác ở Liên Xô, học tập tại Trường Quốc tế Lênin và làm nghiên cứu sinh tại Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa nhằm vượt qua sự nghi kị, hiểu lầm.
Ngày 6/6/1938
Gửi thư cho lãnh đạo Quốc tế Cộng sản đề đạt nguyện vọng xin được trở về nước hoạt động chính trị trực tiếp.
Tháng 10/1938
Rời Liên Xô, lên đường đi qua Trung Quốc để tìm đường áp sát và vượt biên giới về Việt Nam.
Ngày 28/1/1941
Nguyễn Ái Quốc chính thức đặt chân qua cột mốc 108 (biên giới Việt - Trung) trở về Tổ quốc tại Pác Bó (Cao Bằng) sau 30 năm bôn ba.
Tháng 5/1941
Chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8 tại Pác Bó, quyết định thay đổi chiến lược: Đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và thành lập Mặt trận Việt Minh (19/5/1941).
Ngày 22/12/1944
Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam).
Ngày 18/8/1945
Ra Lời kêu gọi Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước trước khi quân Đồng minh vào.
Ngày 2/9/1945
Đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ngày 19/12/1946
Phát động cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp với 'Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến' và phương châm 'Dĩ bất biến, ứng vạn biến'.
1946 - 1954
Giai đoạn hoàn thiện lý luận về Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và từng bước định hình tư tưởng về xây dựng CNXH ở Việt Nam.
1954 - 1969
Giai đoạn lãnh đạo đồng thời 2 nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng dân tộc ở miền Nam.
Ngày 17/7/1966
Ra Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước quyết tâm chống Mỹ, khẳng định chân lý thời đại: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do.”
Tháng 9/1969 (Ngày 2/9/1969)
Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, tư tưởng của Người tiếp tục soi đường cho Cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng (1975).
Năm 1987
UNESCO chính thức ra Nghị quyết vinh danh Hồ Chí Minh là 'Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam.'