1/41
Looks like no tags are added yet.
Name | Mastery | Learn | Test | Matching | Spaced | Call with Kai | Chat |
|---|
No analytics yet
Send a link to your students to track their progress


Tên cấu trúc (tên hình): Biểu bì của da DÀY (vì dày mới có lớp bóng)
Là biểu mô lát tầng có sừng hóa
Đặc điểm phân biệt các lớp (Sừng, bóng, hạt, gai, đáy)
Lớp sừng: dày nhất ở trên cùng (25 - 30 hàng tế bào sừng), bào tương chứa chủ yếu Keratin và giàu lipid (tích tụ ở lớp hạt - lớp trung gian thứ 3 nếu xét có 5 lớp)
Lớp bóng: mỏng nhất có thể và bóng loáng (ko có màu) (ở da mỏng thì lớp bóng là 1 phần của lớp sừng luôn) (trung bình là 3 - 5 hàng tb sừng chết)
Lớp hạt: 2 - 5 hàng tb dẹt chứa hạt keratohyalin (mấy cục màu tím) (màu tím đậm màu nhất trong bầy)
Lớp gai: Nhiều tầng tế bào hình đa giác, nhân tròn ở giữa, giữa các tế bào có thể thấy cầu liên bào (gai liên bào) để nối các tb lại vs nhau
Lớp đáy: 1 hàng tế bào thôi nhưng mà là hình trụ or vuông —> nhìn có thể thấy dày tương đương vs lớp hạt

Biểu bì da MỎNG (Do ko có lớp bóng)

Vẫn là biểu bì (nhưng phóng bự hơn chỉ thấy lớp đáy và lớp gai thôi)
Xét lớp gai:
Gai liên bào: đường sọc li ti nối giữa ranh giới các tế bào gai
Tb Langerhans: Một số tế bào có khoảng sáng quanh nhân nằm rải rác
Xét lớp đáy:
Tb sắc tố éo thấy, nhưng mà thấy mấy cái tế bào trụ nó có cái màu đậm phủ lên —> gọi là mủ melanin phủ lên tế bào sừng (tb sắc tố tạo melanin sog đóng gói thành melanosomem sog chuyển qua cho tb sừng —> vô tb sừng thì tb sừng sẽ bỏ cái vỏ để lấy đống melanin ra sài —> phủ đống melanin đó lên trên bề mặt của ADN để chống tia UV) —> VÌ ở lớp đáy có nhiều Tb sừng nhất —> lớp đáy là lớp chủ yếu quyết định màu sắc da của melanin (càng lên trên thì melanin càng thoái hóa dần)
Lớp đáy còn có thụ thể Merkel (mà ở đây ko thấy)

Tên hình: Lớp gai của lớp biểu bì da
Mấy cái mũi tên là nó đang chỉ vô Gai liên bào (Cầu liên bào) nối giữa 2 tế bào gai lại vs nhau
Các tế bào gai: Hình da diện (đa giác), có nhân ở giữa
Gọi là tế bào gai vì khi quan sát thì bề mặt xung quanh các tế bào nhìn như có mấy cái gai nhọn nhô ra (Gai liên bào - gai liên kết giữa các tế bào)

Mũi tên chỉ vô lớp hạt của biểu bì da
Gồm 3 - 5 tầng tế bào dẹt xếp lại (là tế bào sừng) (độ dày tương đương vs lớp đáy) mấy cái tb đó chứa các hạt keratohyain (bắt màu tím mạnh)
Tại đây diễn ra:
Tb sừng thoái hóa dần (mất nhân và bào quan) (Apoptosis) và tích tụ keratin
Hạt keratohyalin giải phóng protein (như filaggrin) giúp biến đổi các tơ trương lực —> keratin (chất sừng)
Xuất hiện các thể Lamellar (thể Màng/thể Odland) giải phóng chất tiết giàu lipid ra không gian gian bào, tạo nên hàng rào chống thấm nước cho da

Ep = Epidermis = biểu bì (thượng bì)
De = Dermis = Bì (trung bì, chân bì)

Lớp nhú chân bì (20% của lớp bì): mô liên kết thưa
Mũi tên đen = Thụ thể Meissner (sờ nhẹ) (nhìn tròn như cái trứng)
Đầu mũi tên = tĩnh mạch
Mấy cái gờ nhô lên (nhìn giống mấy ngón tay) = gờ or nhú chân bì (gờ/nhú bì)
Lưu ý: Lớp bì chia 2 lớp là lớp nhú vs lớp lưới
Lớp nhú: 20% tổng bì và có mô liên kết thưa (sợi collagen type 3 tạo mạng sợi mảnh, vẫn có sợi type 1 nhé)
Lớp lưới: 80% còn lại và có mô liên kết đặc (sợi collagen type 1 thô dày)
(Cả 2 đều là sắp xếp sợi collagen KO định hướng hết)

Cũng vẫn là lớp bì vs biểu bì thôi
Xét hình:
Vascular papillae – blood vessels: Nhú mạch – Nhú chân bì chứa lưới mao mạch nuôi dưỡng.
Nervous papillae – Meissner's corpuscles: Nhú thần kinh – Nhú chân bì chứa tiểu thể Meissner (thụ thể xúc giác).
Ngoặc nhọn đen (phía trên cùng bên phải): Biểu bì (Epidermis)
Ngoặc nhọn xanh (ở giữa bên phải): Lớp nhú chân bì Chứa Mô liên kết thưa —> nhìn nó thấy trơn láng mịn hơn cái kia)
Ngoặc nhọn đen (phía dưới cùng bên phải): Lớp lưới của chân bì (chứa mô liên kết đặc —> nhìn bằng mắt thường cũng có thể thấy được cái màu sợi nó khá là chi chít hơn so với cái lớp nhú - mô liên kết thưa)t

Mũi tên ở trên: chỉ lớp nhủ của bì
Mũi tên ở dưới: chỉ lớp lưới của bì
Màu nhuộm:
Dải màu tím/xanh đậm: là sợi đàn hồi
Dải màu hồng nhạt: là bó sợi collagen
(Chatgpt said ko có kết luận lớp nhú có tỉ lệ elastin cao hơn collagen so vs lớp lưới)


Mô học của da dày:
Phía trên cùng: Lớp sừng (stratum corneum) siêu dày, nhuộm màu nhạt/xám xanh, có các đường rãnh và vân bề mặt (tạo nên vân tay).
Phần giữa (dày và màu sẫm): Lớp biểu bì lát tầng sừng hóa. Phần biểu bì cắm sâu xuống dưới gọi là mào biểu bì, đan xen với các nhú chân bì (mũi tên đen chĩa vào) nhô lên.
Phần dưới (mô liên kết & tuyến): Lớp bì chính chính (dermis) chứa vô số các nang/ống cuộn tròn của Tuyến mồ hôi (Eccrine sweat glands). Lưu ý: Da dày không có nang lông và tuyến bã.

Cơ quan: tuyến mồ hôi
Phần chế tiết (Secretory unit): Là các nang cắt ngang có đường kính lòng rộng hơn, thành lợp bởi biểu bì đơn (tế bào hình trụ/vuông cao, nhân sáng, bào tương nhạt màu). Bên ngoài có các tế bào cơ-biểu mô (myoepithelial cells) hỗ trợ co bóp tống mồ hôi.
Phần bài xuất (Excretory duct): Là các ống cắt ngang có lòng hẹp hơn, đường kính nhỏ hơn. Thành lợp bởi biểu bì vuông tầng (thường là 2 tầng tế bào vuông, nhân bắt màu đậm hơn).
Mô liên kết xung quanh: Nền mô liên kết thưa, có chứa một số tế bào mỡ (khoảng sáng trống) và mao mạch.

Tên cơ quan: Tuyến bã
Cấu tạo gồm các thuỳ hình túi lợp bởi hai loại tế bào đặc trưng: Tế bào mầm (Tế bào đáy) (sinh sản) và Tế bào bã (Tế bào tiết) (tích tụ giọt mỡ).
Tế bào đáy / Tế bào mầm (Mũi tên chỉ): Nằm sát màng đáy ngoài cùng, kích thước nhỏ, hình dẹt hoặc vuông, nhân nhỏ bắt màu kiềm đậm (tím sẫm) —> Các tế bào này liên tục phân chia để thay thế các tế bào bã bị thoái hóa phía trong.
Tế bào bã (Phần lớn trung tâm): Kích thước lớn, hình đa giác, nằm tập trung ở giữa tiểu thuỳ. Bào tương rất sáng/trống. Nhân tròn, nằm chính giữa, có dấu hiệu đông/teo dần khi di chuyển vào trung tâm để chuẩn bị vỡ tung ra thành chất tiết.
Xung quanh: Lớp mô liên kết sắn sợi (chân bì) chứa các sợi collagen nhuộm hồng và tế bào sợi

Tên cơ quan: nang lông và tuyến bã (nang lông cắt dọc xong rồi có dính cái tuyến bã vô)
Nằm ở lớp bì của da mỏng
HF (Hair Follicle - Nang lông): Cấu trúc hình ống dẹt kéo dài. Ở giữa là Thân lông / Sợi lông màu vàng. Xung quanh là lớp bao biểu mô trong và ngoài (bao lông) gồm các hàng tế bào biểu mô sẫm màu bắt màu kiềm tím.
SG (Sebaceous Gland - Tuyến bã): Nằm ngay cạnh nang lông, chứa các tế bào bã lớn có bào tương dạng bọt/sáng màu và nhân tròn ở giữa.
Mũi tên đen (góc trên bên phải): Chỉ đường dẫn/chất bã tiết từ tuyến bã đổ thẳng vào cổ nang lông.
De (Dermis - Lớp bì/Chân bì): Mô liên kết bao quanh nang lông và tuyến bã, chứa các sợi collagen màu hồng nhạt và tế bào sợi.

Đại thể u nhú da
U có dạng mảng, cục sùi, đơn độc hoặc nhiều ổ lồi lên bề mặt da, kích thước thay đổi
Vị trí: hay gặp ở những vùng cơ thể phủ biểu mô lát tầng như: da, niêm mạc miệng, cổ tử cung,…

U nhú da
Vi thể: u tạo bởi các cấu cấu trúc dạng nhú, gồm 1 biểu bì tăng sản (dày gấp 2 - 3 lần so với biểu bì của vùng da bình thường xung quanh), bao quanh 1 trục liên kết có chứa các mạnh máu
Nhú biểu bì
Trục liên kết mạch máu
Biểu bì bình thường
Nang lông
Ống bài xuất tuyến mồ hôi

Vi thể u nhú da

Vi thể u nhú da

Nê vi trong bì (dermal nevus) - nevus (nê vi) = 1 vùng mô/ tế bào phát triển ko bình thường và lành tính
Đại thể (hình bên trái): Thương tổn dạng nốt sẩn gồ lên bề mặt da (ở mi dưới mắt), đường kính < 6 mm, giới hạn rõ, màu nâu sẫm, bề mặt láng hoặc có thể có lông mọc kèm
Đặc điểm mô học / Dạng tổn thương: Tăng sinh lành tính của các tế bào hắc tố (Melanocytes) tập trung hoàn toàn trong lớp bì (trung bì).
Các tế bào hắc tố tập trung thành từng tổ/đám/lốc nằm ở lớp bì nông (ngay dưới màng đáy).
Bào tương chứa các hạt sắc tố Melanin màu nâu đen.
Biểu bì bên trên thường phẳng, bị teo mỏng nhẹ hoặc tăng sừng nhẹ, màng đáy còn nguyên vẹn

Carcinoma tế bào gai (đại thể)
Bờ sang thương (Mũi tên xanh lá chỉ): Bờ xung quanh khối u nhô gồ cao hơn mặt da lành, gờ cứng, cuộn rãnh nhẹ (đặc trưng của các ung thư biểu mô tiến triển).
Loét trung tâm (Mũi tên hồng chỉ): Vùng chính giữa sang thương bị hoại tử, mất chất tạo thành ổ loét lõm sâu, có vảy đóng/máu khô/dịch tiết hoại tử.
Tế bào gai / Tế bào vảy (Squamous cells): Lớp tế bào chiếm đa số ở biểu bì da (nằm trên lớp đáy). Khi các tế bào này đột biến, phân chia mất kiểm soát và xâm nhập qua màng đáy (xâm nhập vào lớp bì) —> tạo thành Carcinoma tế bào gai.
Tb đột biến có hình dạng: hình đa diện kích thước lớn, không đều,nhân lớn, kiềm tính, nhiều nhân quái và nhân chia

Carcinoma tế bào gai (vi thể) (lấy cục u bự ra ở hình carcinoma tb gai đại thể xong cắt dọc từ trên xuống - theo hướng biểu bì tới hạ bì) → Thấy được ở rìa 2 bên là cấu trúc da bình thường chưa bị đột biến
Tế bào ung thư phát triển mạnh, những tế bào trung tâm không được nuôi dưỡng thoái hóa tạo thành những cuộn tròn đồng tâm, bắt màu hồng tươi gọi là cầu sừng. (thì bản chất tb sừng sẽ tự thoái hóa để tạo chất sừng, nhưng cái này tăng sinh mạnh quá chưa kịp lên tới biểu bì để thoái hóa thì nó đã bị thoái hóa ở đây và lồi 1 cục bự lên)
Mô đệm xâm nhập các TB viêm, tăng sinh TB sợi và rải rác có tổ chức chảy máu hoại tử

Carcinoma tế bào gai (vi thể)
Chất sừng (Keratin): Là chất đạm vô bào dạng mảng, tấm màu hồng/đỏ nhạt đến đậm do tế bào biểu mô sừng hóa tiết ra.
Cầu sừng (Keratin pearl): Là chất sừng được cuộn lại thành hình khối tròn đồng tâm rõ ràng, bao bọc bởi các lớp tế bào gai xung quanh (nhìn y chang cuộn củ hành hay viên ngọc).
LƯU Ý: Khi có cầu sừng thì giúp đánh giá được Carcinoma tế bào gai có độ biệt hóa rõ

Vẫn là Carcinoma tế bào gai vi thể
Mấy cục bự khổng lồ màu hồng = cầu sừng (ngọc sừng)
Tế bào gai ung thư (Bên phải & trung tâm): Nhân tế bào phình to, kiềm tính (tím sẫm), thấy rõ các hạt nhân, nhiều tế bào có hình ảnh nhân chia (mitosis) bất thường

Carcinoma tế bào đáy (đại thể) (chatgpt said ut tế bào đáy là loại ut da phổ biến nhất) (hiếm khi di căn)
Ung thư tế bào gai: Thường loét lõm ở giữa, bờ gồ cao cứng, sừng hóa thô ráp
Ung thư tế bào đáy: Thường bóng mọng dạng hạt ngọc, bề mặt sùi nhẹ, có thể có mạng lưới mao mạch giãn mỏng hoặc tăng sắc tố đen/nâu

Carcinoma tế bào đáy (vi thể)
Tế bào ung thư: các ổ tế bào ung thư kích thước to nhỏ khác nhau bắt màu kiềm tím đậm (do nhân tế bào đáy chiếm phần lớn bào tương)
Bắt màu kiềm mạnh (Basophilic): Tế bào đáy u có nhân rất to so với bào tương nên dưới kính hiển vi nhuộm H&E, toàn bộ khối u hiện lên thành các đốm màu tím sẫm rực rỡ (khác với màu hồng của Carcinoma tế bào gai do có nhiều chất sừng/bào tương).
Mẹo nhận biết: Thấy một khối gồm nhiều "đốm tím sẫm" cuộn thành chùm nằm ngay dưới lớp da lành → Nghĩ ngay đến Carcinoma tế bào đáy

Carcinoma tế bào đáy (vi thể)
Màng đáy = ranh giới để xác định là xâm lấn hay tại chỗ
Tế bào u có nhân kiềm tính bắt màu tím sẫm, bào tương rất hẹp và nhân lớn
Khe co rút (Retraction artifact / Cleavage space): Khoảng sáng trống (trắng) nằm giữa rìa đám tế bào u và mô liên kết xung quanh. Do mô đệm xung quanh u bị thoái hóa nhầy, khi làm tiêu bản bị co rút tạo thành khe hở

Hình ảnh xếp hàng rào (Palisading pattern): Dấu hiệu "vàng" để nhận biết Carcinoma tế bào đáy
Hàng tế bào ngoài cùng của mỗi đám u xếp song song, vuông góc với mô đệm xung quanh, nhìn giống như hàng bao quanh.

Vẫn là carcinoma tế bào đáy (vi thể)

Vi thể carcinoma tế bào đáy
Biểu bì bình thường
Các đám tế bào đáy ung thư xâm nhập trong lớp bì
Thoái hóa bọc: các khoảng trống hốc tròn to nhỏ chứa dịch do tế bào u trung tâm thiếu nuôi dưỡng bị hoại tử/thoái hóa
Sắc tố melanin: các hạt màu nâu đen nhỏ nằm lốm đốm bên trong đám tế bào u

Tiểu thể xúc giác Meissner (mũi tên chỉ): nằm trong nhú bì, có hình bầu dục, gồm các tế bào Schwann biến đổi xếp nằm ngang song song với nhau như các dải bậc thang (hoặc xếp như "dải xếp nếp/cuộn dây thừng")
Chức năng Meissner: xúc giác tinh vi, va chạm nhẹ (Light touch) và rung động tần số thấp
Mạch máu (đầu mũi tên chỉ)

Lớp bì lưới (Dermis - Reticular Layer): Chứa Mô liên kết xơ đặc không tạo hướng (Dense irregular connective tissue) gồm các bó sợi collagen đan xen chằng chịt
Lớp hạ bì (Hypodermis): Chứa mỡ, bó sợi thần kinh (nhánh của sợi tk ngoại biên), tiểu thể Pacini và các mạch máu lớn
Nhận diện tiểu thể Pacini: y chang lát cắt dọc của một củ hành Tây với nhiều lớp tế bào sợi xếp đồng tâm quanh một trục thần kinh ở giữa và nằm sâu ở hạ bì
Ngoài lề: phân biệt pacini vs bó sợi thần kinh:
Bó sợi thần kinh: Là tập hợp nhiều sợi thần kinh nằm sát nhau, bao quanh bởi bao bó thần kinh (Perineurium), nhìn giống hình ảnh tổ ong hoặc các chấm nhỏ gom lại.
Tiểu thể Pacini: Là cấu trúc đơn lẻ có các vòng xoáy đồng tâm dạng củ hành rất rõ rệt.

Tên cơ quan: Giác mạc
5 lớp của giác mạc gồm:
Biểu mô trước giác mạc (Biểu mô):
Đặc điểm: Lớp trên cùng màu tím sẫm, dày khoảng 5–6 hàng tế bào. Bản chất là Biểu mô tầng dẹt không sừng hóa.
Màng Bowman (Màng giới hạn trước):
Đặc điểm: Dải mỏng thuần khiết không có tế bào, bắt màu hồng ngay sát dưới lớp biểu mô. Bản chất là màng đáy dày do sợi collagen xơ hóa tạo nên.
Nhu mô giác mạc (Nhu mô):
Đặc điểm: Chiếm tới 90% độ dày của toàn bộ giác mạc. Gồm nhiều lá sợi collagen xếp song song cực kỳ ngăn nắp, xen kẽ các tế bào giác mạc (corneal keratocytes) dẹt có nhân hình thoi dẹt màu tím nhạt.
Màng Descemet (Màng giới hạn sau):
Đặc điểm: Dải đường kẻ màu hồng tươi/đỏ rực rất mịn nằm ở phía dưới nhu mô. Là màng đáy của lớp nội mô phía dưới.
Nội mô giác mạc (Nội mô):
Đặc điểm: Lớp dưới cùng nhất tiếp xúc với tiền phòng. Bản chất là 1 hàng tế bào biểu mô đơn dẹt/hình hộp thấp với các nhân hình tròn/bầu dục dẹt xếp thành hàng dưới màng Descemet.

Ảnh vi thể của võng mạc
Ganglion cells (Lớp tế bào hạch): Nằm ngoài cùng bên trong (gần buồng dịch kính), chứa nhân các tế bào hạch lớn, xếp thưa thớt thành 1 hàng.
Internal nuclear layer (Lớp nhân trong): Dải nhân màu tím đậm chứa nhân của các tế bào hai cực (bipolar cells), tế bào ngang (horizontal cells), tế bào vô nhánh (amacrine cells) và tế bào Mülller.
External nuclear layer (Lớp nhân ngoài): Dải nhân màu tím rất dày đặc, chứa nhân của các tế bào que và tế bào nón (Rods & Cones).
Rods and cones (Lớp tế bào que và tế bào nón / Lớp nón que): Dải chứa các đoạn ngoài và đoạn trong của thụ thể cảm quang, gồm các dải sợi thẳng đứng xếp song song.
Choroid (Mạch mạc / Màng mạch): Lớp mô liên kết chứa vô số mạch máu nhỏ, tế bào hắc tố sẫm màu nằm ngay dưới lớp biểu mô sắc tố võng mạc.
Vessels (Mạch máu mạch mạc): Các lòng mạch máu lớn ở lớp sâu của mạch mạc.

Ảnh vi thể võng mạc (thấy đủ 10 lớp)
10 lớp từ ngoài vào trong:
Ch (Choroid): Mạch mạc (Màng mạch) – Dải mô liên kết chứa vô số tế bào hắc tố sẫm màu (nâu/đen) và mạch máu
1: Biểu mô sắc tố (Pigment epithelium) – Lớp tế bào đơn chứa nhiều hạt hắc tố melanin màu nâu đen tiếp giáp trực tiếp với mạch mạc.
2: Lớp nón - que (Layer of rods and cones).
C (Cone): Tế bào nón.
R (Rod): Tế bào que.
3: Màng giới hạn ngoài (Outer limiting membrane) – Dải đường kẻ mỏng ngăn cách giữa lớp nón-que và lớp nhân ngoài.
4: Lớp nhân ngoài (Outer nuclear layer) – Dải nhân màu tím rất dày chứa nhân của các tế bào nón và tế bào que.
5: Lớp lưới ngoài (Outer plexiform layer) – Dải màu hồng nhạt chứa các xináp nối giữa tế bào nón-que với tế bào hai cực.
6: Lớp nhân trong (Inner nuclear layer) – Dải nhân tím đậm chứa nhân tế bào hai cực, tế bào ngang, tế bào vô nhánh và tế bào Müller.
7: Lớp lưới trong (Inner plexiform layer) – Dải màu hồng nhạt chứa xináp giữa tế bào hai cực và tế bào hạch.
8: Lớp tế bào hạch (Ganglion cell layer) – Hàng nhân tế bào to, nằm tương đối thưa thớt.
9: Lớp sợi thần kinh (Nerve fiber layer) – Các sợi trục của tế bào hạch chạy song song hướng về đĩa thị.
10: Màng giới hạn trong (Inner limiting membrane) – Lớp màng mỏng dưới cùng tiếp xúc với dịch kính

3 loại tế bào chính của biểu mô khứu giác:
Tế bào khứu giác (Olfactory cells / Neurons): Bản chất là nơ-ron hai cực, nhân hình tròn nằm ở tầng giữa của biểu mô.
Tế bào chống đỡ (Supporting cells): Nhân hình bầu dục, nằm ở tầng trên (gần bề mặt ngọn).
Tế bào đáy (Basal cells): Tế bào nhỏ, nhân đậm màu nằm sát màng đáy (ở tầng dưới).
Tuyến Bowman (Bowman's gland): Tuyến tiết nhầy/nước nằm ở lớp đệm bên dưới biểu mô —> Dịch tiết tuyến này giúp hòa tan các chất có mùi để tế bào khứu giác nhận biết.
Biểu mô khứu giác: KHÔNG có tế bào đài (biểu mô hô hấp thì có)

Vẫn là biểu mô khứu giác
Lông chuyển
Tế bào nâng đỡ
Tế bào đáy
(nhân ở trên là tế bào nâng đỡ, còn nhân ở dưới là tế bào đáy, còn nhân ở giữa mới là tế bào khứu giác)

Biểu mô khứu giác
OE (Olfactory Epithelium): Biểu mô khứu giác (Biểu mô trụ giả tầng có lông chuyển)
C (Cilia): Lông chuyển – Các sợi cảm giác dài nhô ra từ ngọn tế bào khứu giác vào lòng khoang mũi.
SC (Supporting Cell): Tế bào chống đỡ – Nhân tế bào hình bầu dục lớn, nằm ở tầng nông (phía trên) của biểu mô.
OC (Olfactory Cell): Tế bào khứu giác (Nơ-ron khứu giác hai cực) – Nhân hình tròn, nằm ở tầng giữa của biểu mô.
BC (Basal Cell): Tế bào đáy – Các tế bào nhỏ hình nón/cầu, nhân đậm màu nằm ở tầng dưới cùng sát màng đáy.



