HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 

  1. Khái niệm 

  • Là quá trình gắn kết nền kinh tế của một quốc gia với nền kinh tế khu vực và thế giới thông qua các biện pháp tự do hóa và mở cửa thị trường trên các cấp độ đơn phương, song phương, đa phương trong đó tự do hóa thương mại (loại bỏ các rào cản đối với thương mại hàng hóa và dịch vụ) chỉ là một nội dung.

  1. Mục tiêu 

mở rộng thị trường tiêu thụ, khai thác hiệu quả các nguồn lực như lao động, vốn, đất đai, công nghệ, thông tin và các yếu tố sản xuất khác. Ngoài ra còn nhằm đa dạng hóa nguồn cung ứng, kể cả hàng hóa dịch vụ và yếu tố sản xuất, nhờ đó giảm thiểu những rủi ro trong cạnh tranh.

  1. Thành tựu của Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế

Thứ nhất, HNKTQT đã đóng góp quan trọng vào việc mở rộng và đưa quan hệ của nước ta với các đối tác đi vào chiều sâu, giữ vững độc lập, chủ quyền, nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế

  • Việt Nam chủ động đàm phán, ký kết và thực thi các FTA, đặc biệt là các FTA thế hệ mới và đảm nhiệm vai trò Chủ tịch APEC (năm 2006 và năm 2017), Chủ tịch ASEAN (năm 2010 và năm 2020)… giúp Việt Nam phát huy tiếng nói trong các khuôn khổ đa phương, cùng các đối tác tham gia quá trình định hình các cấu trúc, xây dựng luật lệ kinh tế - thương mại phù hợp lợi ích chung. 

  • Việt Nam không ngừng “mở rộng” và phát triển quan hệ với hầu hết quốc gia, tổ chức trên toàn thế giới; từng bước đưa quan hệ đi vào chiều sâu, hiệu quả, nhất là 8 đối tác chủ chốt, bao gồm Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Nga, ASEAN, Liên minh châu  u (EU).  Trong đó có Trung Quốc (2008), Liên bang Nga (năm 2012), Ấn Độ (2016), Hàn Quốc (2022), Mỹ (9/2023), Nhật Bản (11/2023) và Australia (2024) là các đối tác chiến lược toàn diện. 

Thứ hai, HNKTQT đã thúc đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài, tăng kim ngạch, mở rộng thị trường và chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất khẩu

  • HNKTQT đã góp phần thúc đẩy thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam. Thời kỳ 1995 - 2022, Việt Nam thu hút được 39.313 dự án với tổng vốn đăng ký 541.149,4 triệu USD, tổng vốn thực hiện 269.227,4 triệu USD (chiếm 49,75% tổng vốn đăng ký). 

  • Vốn FDI vào Việt Nam chiếm 22,87% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, đóng góp 18,16% GDP và 54,82% kim ngạch xuất khẩu hàng hóa.

  •  HNKTQT đã thúc đẩy xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Quy mô xuất nhập khẩu hàng hóa tăng 53,67 lần trong thời kỳ 1995 - 2022, từ 13.604,3 triệu USD năm 1995 tăng lên 730.206,1 triệu USD năm 2022. Kim ngạch xuất nhập khẩu tăng trưởng bình quân 16,61%/năm. Cán cân thương mại theo hướng gia tăng trị giá mức xuất siêu. Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã vươn tới hầu hết các thị trường trên thế giới, nhiều sản phẩm đã dần có chỗ đứng vững chắc và nâng cao được khả năng cạnh tranh trên nhiều thị trường có yêu cầu cao về chất lượng như EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Ôxtrây-li-a… 

  • HNKTQT là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất khẩu theo hướng tích cực: Tăng tỷ trọng nhóm hàng công nghiệp chế biến chế tạo từ 41,16% năm 2007 lên 85,99% năm 2022, giảm tỷ trọng nhóm hàng nhiên liệu khoáng sản và nông lâm thủy sản từ 19,54% và 20,43% năm 2007 xuống còn 1,33% và 8,29% năm 2022

Thứ ba, Việt Nam đã tận dụng, khai thác có hiệu quả các cam kết mở cửa thị trường từ các FTA để phát triển xuất nhập khẩu hàng hóa. Ngoài việc hưởng lợi ích từ việc xóa bỏ hàng rào thuế quan, quyền lợi và trách nhiệm của doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia các FTA thế hệ mới còn là việc tiếp nhận kịp thời thông tin về thị trường, khoa học và công nghệ, hưởng các ưu đãi, được bảo vệ lợi ích chính đáng, đồng thời với trách nhiệm thực thi hiệu quả các FTA là tự hoàn thiện mình để đạt các tiêu chuẩn mới trong thực thi các FTA thế hệ mới. Đặc biệt, việc tham gia FTA thế hệ mới giúp các doanh nghiệp Việt Nam có khả năng nắm bắt các cơ hội để đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường các nước tham gia hiệp định. 

  • 16 FTA đã ký kết và thực thi và 3 FTA đang đàm phán (u được hưởng ưu đãi từ 60 quốc gia (bao gồm hầu hết các đối tác thương mại lớn của Việt Nam)

  • Doanh nghiệp và hàng hóa xuất khẩu Việt Nam đang dần nâng cao mức tận dụng ưu đãi thuế quan tại các thị trường có FTA. 

  • Các FTA có tỷ lệ tận dụng ưu đãi cao trong năm 2022 như AIFTA (66,85%),VCFTA (64,57%), VN-EAEU FTA (54,44%), AFTA (39,21%), ACFTA (29,34%), AJCEP (26,93%)… Các mặt hàng có tỷ lệ tận dụng ưu đãi cao như giày dép, nhựa và sản phẩm nhựa, hàng dệt may, thủy sản, cao su và sản phẩm từ cao su, hạt tiêu, cà phê… 

Thứ tư, HNKTQT góp phần hoàn thiện cơ sở hạ tầng pháp lý của Việt Nam, giải quyết hiệu quả nhiều vấn đề xã hội và môi trường.

Thứ năm, góp phần giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội: đói nghèo, tri thức (ODA)

  1. Hạn chế trong hội nhập kinh tế quốc tế 

Thứ nhất, quá trình đổi mới ở trong nước, nhất là đổi mới, hoàn thiện thể chế, trước hết là hệ thống luật pháp, chính sách chưa được thực hiện một cách đồng bộ, chưa gắn chặt chẽ với yêu cầu hội nhập 

Thứ hai, năng lực thực thi HNKTQT của Việt Nam còn hạn chế, hiệu quả HNKTQT chưa cao 

  • mức tận dụng ưu đãi thuế quan từ các FTA để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa chiếm 33,61% kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường có FTA, trong khi tỷ lệ này của Nhật Bản và Hàn Quốc khoảng 80%, của Trung Quốc và các nước ASEAN-6 khoảng 70%

Thứ ba, việc ứng phó với những biến động và xử lý những tác động từ môi trường khu vực và quốc tế còn bị động, lúng túng và chưa đồng bộ;  nhiều doanh nghiệp, tổ chức và địa phương vẫn còn lúng túng trong việc nhận thức sâu sắc nội dung của các điều khoản mà Việt Nam đã cam kết, các quy định, quy tắc của các FTA cả thế hệ cũ và thế hệ mới, do đó chưa thật sự chủ động HNQT, ảnh hưởng không nhỏ đến việc bảo đảm độc lập, tự chủ trong quan hệ kinh tế - thương mại. 

Chẳng hạn, vẫn chưa chủ động trong xuất khẩu, khiến Việt Nam bị “thua” ngay cả ở những mặt hàng có thế mạnh, như gạo, cà-phê. Chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn nhiều hạn chế. Tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao, nhưng chủ yếu vẫn dựa nhiều vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng, chậm chuyển sang phát triển theo chiều sâu, năng suất lao động thấp, có nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực.

Với độ mở của nền kinh tế khá lớn (trên dưới 200% nếu lấy tổng kim ngạch xuất - nhập khẩu so với GDP), sản xuất và xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào nguyên, vật liệu nhập khẩu từ bên ngoài, chi phí nguyên, vật liệu nhập khẩu chiếm khoảng 40% trong tổng chi phí nguyên, vật liệu dùng trong sản xuất của nền kinh tế. Khi nguyên, vật liệu nhập khẩu dùng cho sản xuất phụ thuộc vào một số ít thị trường sẽ gây rủi ro đối với kinh tế Việt Nam khi các thị trường này xảy ra biến cố hoặc môi trường địa - chính trị, địa - kinh tế có nhiều biến động.

  1. Nguyên nhân hạn chế

  • Kinh tế thế giới và liên kết kinh tế quốc tế diễn biến phức tạp, nhiều rủi ro, đan xen giữa các mảng màu “sáng”, “tối”. Tăng trưởng kinh tế, thương mại thế giới phục hồi chậm trong trung hạn và quay lại đà tăng trưởng trong dài hạn. Xu hướng tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế và thực thi các FTA thế hệ mới, trong đó tiến trình khu vực hóa ngày càng đóng vai trò quan trọng và sẽ dần thay thế tiến trình toàn cầu hóa. Liên kết kinh tế quốc tế chịu ảnh hưởng mạnh từ điều chỉnh chính sách của các nước, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn và sự phát triển của khoa học công nghệ. 

  • Chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về HNKTQT có nơi, có lúc chưa được quán triệt kịp thời, đầy đủ, chậm được cụ thể hóa và thể chế hóa. HNKTQT còn bị tác động bởi cách tiếp cận ngắn hạn và cục bộ, do đó chưa tận dụng được hết các cơ hội và ứng phó hữu hiệu với các thách thức. Các cấp, ngành, tổ chức và cá nhân chưa nhận thức sâu sắc và chưa chủ động tận dụng các cơ hội và thách thức của hội nhập để chủ động ứng phó. 

  • Quy trình chính sách HNKTQT chưa được xây dựng và tổ chức thực hiện một cách khoa học dẫn đến tính khả thi thấp, trách nhiệm không rõ. Khả năng nhận đinh, đánh giá và dự báo xu thế HNKTQT chưa cao, việc xây dựng cơ chế nhận biết, cảnh báo sớm tác động trong các lĩnh vực hội nhập kinh tế còn yếu. Công tác tham mưu, tư vấn chính sách vẫn còn hạn chế trong việc phân tích, định hướng và dự báo những vấn đề về HNKTQT phát sinh. 

  • Công tác nghiên cứu, đánh giá, dự báo về các vấn đề mới của HNKTQT còn hạn chế, chưa thể hiện được vai trò tích cực trong việc giúp cho Việt Nam nắm bắt được cơ hội tăng cường hội nhập và hạn chế được các thách thức do tiến trình HNKTQT mang lại, chủ động ứng phó với thay đổi diễn ra trên trường quốc tế, giúp đất nước bước vào giai đoạn phát triển nhanh và bền vững. 

  • Quan điểm và nhận thức về HNKTQT, tham gia các FTA ở các ngành, các cấp còn có sự khác nhau, chưa thống nhất; Nhiều địa phương chủ động, tích cực HNKTQT. Bên cạnh đó, một số địa phương còn lúng túng trong việc triển khai công tác HNKTQT. 

  • Việc khai thác và tận dụng các cơ hội, thuận lợi từ HNKTQT và tự do hóa thương mại, đặc biệt là từ những cam kết trong các FTA Việt Nam đã ký kết để đẩy mạnh xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước còn hạn chế.

  1. Bối cảnh 

Bối cảnh quốc tế giai đoạn hiện nay có một số đặc điểm quan trọng tác động mạnh mẽ đến định hướng xây dựng nền kinh tế độc lập và tự chủ, đó là:

Một là, thế giới đang đứng trước nhiều bất ổn khó lường. Gia tăng các xung đột, biến đổi khí hậu ngày càng ảnh hưởng nặng nề. Lạm phát trên một số nền kinh tế lớn đang có xu hướng gia tăng. Việc thắt chặt chính sách tiền tệ sẽ khiến tăng trưởng kinh tế toàn cầu đứng trước nguy cơ suy giảm.

Hai là, thế giới đang hội nhập và chia tách đan xen. Một mặt, các FTA thế hệ mới, kết nối khu vực được đẩy mạnh; mặt khác, xu thế chia tách cũng đang xuất hiện. Điển hình nhất xung đột Nga - U-crai-na, Nga bị cấm vận và thế giới càng bị chia tách. Chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục tái cấu trúc theo hướng chuyển hoạt động sản xuất sang các nước thân thiện, hay về gần thị trường tiêu dùng, sân nhà để quản lý rủi ro và giảm chi phí vận hành. Hội nhập kinh tế quốc tế đang có biểu hiện phân mảnh, chậm lại và tập trung nhiều vào nội khối. Đáng chú ý, nhiều yếu tố bất ổn xuất phát từ cạnh tranh quyết liệt giữa các siêu cường nhằm định hình trật tự thế giới, sự phân mảnh địa chính trị, chiến tranh Nga – Ukraine và bầu cử ở Hoa Kỳ…

Châu Âu đang phải đối mặt với nguy cơ suy thoái kinh tế đang ngày một trầm trọng, kèm theo những thách thức của lạm phát. Tại châu Á, Trung Quốc cũng đang đối mặt với khủng hoảng bất động sản kéo dài và đang rất khó khăn trong việc tìm ra giải pháp tháo gỡ.Điều kiện tài chính trở nên khó khăn, ảnh hưởng tới tăng trưởng và lợi nhuận của doanh nghiệp. 

Ba là, xuất hiện các nguy cơ an ninh phi truyền thống. Các mối nguy cơ an ninh phi truyền thống, như đại dịch COVID-19 chưa có tiền lệ, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chuỗi sản xuất và chuỗi cung ứng toàn cầu. Biến đổi khí hậu diễn ra nhanh hơn, mạnh hơn so với dự báo cũng đem lại những tác động không nhỏ về nước biển dâng, ngập mặn, hạn hạn, lũ lụt, sóng thần... đối với các quốc gia.

Trong bối cảnh mới của tình hình thế giới và trong nước, việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng sẽ góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

6. Giải pháp

(1) Hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách 

  • Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách để thực hiện đầy đủ các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình đã đề ra. Trong việc sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp quy hiện hành cần đảm bảo tính đồng bộ, hiệu quả, duy trì ổn định môi trường đầu tư, kinh doanh, không gây xáo trộn, ảnh hưởng đến lợi ích của các doanh nghiệp đang hoạt động cũng như các nhà đầu tư mới; Cần tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp lý, hướng tới hài hòa hóa chính sách với các cam kết quốc tế. 

  • Kịp thời rà soát, sửa đổi, điều chỉnh, xóa bỏ quy định không phù hợp với các cam kết quốc tế nhằm thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trong các điều ước quốc tế song phương, khu vực và đa phương mà Việt Nam là thành viên; Đồng thời, xem xét điều chỉnh các điều kiện đầu tư, kinh doanh trong một số ngành, lĩnh vực tuy không cam kết mở cửa, hoặc cam kết chặt chẽ hơn quy định pháp luật hiện hành nhưng phù hợp với nhu cầu phát triển và định hướng thu hút đầu tư của nước ta.

 (2) Tổ chức thực thi hiệu quả các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế 

  • Tiếp tục thực thi đầy đủ, nghiêm túc các cam kết gia nhập WTO và cam kết trong các FTA. 

  • Rà soát, đánh giá lộ trình thực hiện cam kết hội nhập hiện nay và tác động đối với từng ngành để điều chỉnh chiến lược phát triển ngành cho phù hợp. 

  • Hỗ trợ doanh nghiệp trong nước chủ động khai thác tối đa thị trường nội địa, tận dụng tốt cơ hội mà việc tham gia WTO và các FTA đem lại để thâm nhập, khai thác thị trường ngoài nước. 

  • Triển khai Hiệp định thuận lợi hóa thương mại của WTO, Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN và tạo thuận lợi thương mại. 

  • Thực hiện và khai thác hiệu quả các FTA có hiệu lực. Tiến hành rà soát, hoàn thiện cơ chế điều phối thực thi cam kết FTA đối với các lĩnh vực cụ thể theo hướng thiết thực và hiệu quả hơn; Bảo đảm lợi ích quốc gia và việc thực thi nghiêm túc các FTA; Đánh giá kịp thời các vấn đề phát sinh và kiến nghị giải pháp tháo gỡ; Nâng cấp Cổng thông tin điện tử về FTA để đem lại lợi ích cao hơn cho cộng đồng doanh nghiệp.

  • Các Bộ, ngành, địa phương tích cực triển khai các Nghị quyết, Chương trình hành động của Chính phủ về HNKTQT; Rà soát, đánh giá các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế để rút kinh nghiệm cho giai đoạn mới; Đẩy mạnh việc hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, chính sách HNKTQT và các cam kết của Việt Nam ở các Bộ, ngành, địa phương, hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp. 

  • Phát huy vai trò của Ủy ban Quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế trong việc phối hợp liên ngành, tăng cường hơn nữa việc kết nối, điều phối, điều hành tập trung, thống nhất giữa hoạch định chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế với triển khai đàm phán và thực thi các cam kết hội nhập. Đôn đốc và giám sát các bộ, ngành, địa phương tổ chức thực thi hiệu quả các cam kết HNKTQT. 

  • Tăng cường hơn nữa sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương trong quá trình xây dựng phương án và tổ chức thực thi các cam kết HNKTQT; Gắn việc điều hành tập trung, thống nhất giữa hoạch định chiến lược HNKTQT với triển khai, đàm phán và thực thi các cam kết hội nhập. 

(3) Tăng cường hợp tác với các đối tác 

  • Tăng cường hợp tác với các đối tác trong khuôn khổ hợp tác đa phương, khu vực và song phương. Tích cực tham gia xây dựng và tận dụng hiệu quả các khuôn khổ hợp tác quốc tế mà Việt Nam là thành viên như WTO, ASEAN, ASEM, APEC…; Chủ động đề xuất sáng kiến, cơ chế hợp tác trên nguyên tắc cùng có lợi; Củng cố và nâng cao vai trò của Việt Nam trong cộng đồng khu vực và quốc tế, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế. 

  • Phối hợp chặt chẽ với các thành viên APEC và ASEM trong các vấn đề hợp tác chính sách, xây dựng các sáng kiến và định hướng hợp tác trong giai đoạn mới hậu Covid-19 và tham gia chủ động, tích cực tại các hội nghị trực tuyến nhằm đảm bảo sự hợp tác xuyên suốt, hiệu quả. 

(4) Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, thuế, hải quan, hỗ trợ doanh nghiệp 

  • Các Bộ, ngành, địa phương cần triển khai các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình hội nhập và thực hiện các cam kết về HNKTQT, kịp thời lắng nghe ý kiến và phản hồi của các doanh nghiệp về các vấn đề chính sách, vướng mắc trong HNKTQT và trong quá trình đàm phán, thực thi các FTA. 

  • Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, thuế và hải quan để góp phần cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; Đơn giản hóa, hiện đại hóa hoạt động cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O): Tổ chức thực hiện và theo dõi triển khai việc phân luồng doanh nghiệp trong quy trình cấp C/O ưu đãi; Đẩy mạnh cấp C/O qua Internet. 

(5) Tăng cường công tác thông tin hội nhập 

  • Tăng cường công tác nghiên cứu, đánh giá, dự báo về các vấn đề mới của HNKTQT, nhất là xu hướng thay đổi cấu trúc dòng thương mại và đầu tư, tình hình kinh tế thương mại thế giới nhằm giúp cho Việt Nam nắm bắt được cơ hội tăng cường hội nhập và hạn chế được các thách thức do tiến trình HNKTQT mang lại, chủ động ứng phó với thay đổi diễn ra trên trường quốc tế, giúp đất nước bước vào giai đoạn phát triển nhanh và bền vững. 

  • Tăng cường tuyên truyền, phổ biến thông tin thông qua nhiều hình thức về các FTA thế hệ mới mà Việt Nam đang tham gia, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa; Tổ chức tập huấn cho các cán bộ thuộc cơ quan quản lý nhà nước các cấp và cộng đồng DN về các cam kết cụ thể có liên quan, bảo đảm hiểu rõ, hiểu đúng, từ đó thực thi các hiệp định FTA thế hệ mới đầy đủ, hiệu quả. 

  • Tăng cường công tác thông tin của hệ thống thương vụ Việt Nam tại nước ngoài để cung cấp cho doanh nghiệp các phân tích, dự báo tình hình thị trường cũng như pháp luật, chính sách và tập quán buôn bán đặc thù của từng khu vực thị trường.

  • Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác thông tin về HNKTQT, tuyên truyền phổ biến các FTA, các cam kết hội nhập tới mọi thành phần trong xã hội, đặc biệt tới các hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp dưới nhiều hình thức khác nhau (Hội nghị, hội thảo, tập huấn, cổng thông tin điện tử, mạng xã hội, báo chí…) nhằm tận dụng hiệu quả ưu đãi từ các FTA nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu, tăng khả năng cạnh tranh trên các thị trường khu vực và quốc tế.