Bài 23

Họ của phần lớn các dân tộc trên thế giới xuất hiện tương đối muộn, lâu thì vài trăm năm, ngắn thì chỉ vài chục năm. Trong dòng chảy lịch sử kéo dài hàng ngàn năm trước Công nguyên, người phương Tây có họ rất muộn, còn lịch sử họ tên của các dân tộc khác lại càng ngắn hơn nữa, thậm chí có một số dân tộc cho đến nay vẫn còn trong thời kỳ “có tên mà không có họ”. Trong khi đó, Trung Quốc lại có truyền thống văn hóa họ tên lâu đời nhất thế giới: phần lớn các họ hiện còn tồn tại ở Trung Quốc đều đã xuất hiện từ thời nhà Thương, nhà Chu cách đây khoảng ba ngàn năm. Chính vì vậy, trong nền văn hóa Trung Hoa lâu đời luôn bao hàm một nền văn hóa họ tên rực rỡ. Ví dụ như các thành ngữ “Trương đội mũ, Lý đội nón”, “Mao Toại tự tiến cử”, “Tuyết nương nửa già”, hay các câu nói dân gian như “Bà Vương bán dưa – tự khen hàng mình”, “Vương Tiểu Nhị đón năm mới – năm sau không bằng năm trước”, hay các quán dụng ngữ như “Chuyện dài nhà Trương, chuyện ngắn nhà Lý”, “Ba anh thợ thuộc da hợp lại cũng bằng Gia Cát Lượng”… tất cả đều chứa đựng họ tên, và ý nghĩa cũng liên quan mật thiết đến họ. Nếu bỏ đi họ tên, những thành ngữ, tục ngữ này cũng sẽ không còn tồn tại.

Trong chữ Hán, chữ “姓” (họ) gồm bên trái là “女” (phụ nữ), bên phải là “生” (sinh), ghép lại mang nghĩa ban đầu là “người phụ nữ sinh con”. Trong xã hội thị tộc mẫu hệ, người mẹ là đại diện của thị tộc, con cái chỉ biết mẹ mà không biết cha, vì vậy họ được truyền theo mẹ. Thời đó, con người còn chưa hiểu rõ nhiều hiện tượng như gió, mưa, sấm, chớp, cháy rừng, động đất, lũ lụt… không thể giải thích những hiện tượng thiên nhiên này một cách khoa học, nên đã hình thành tâm lý vừa sợ hãi vừa tôn thờ thần bí. Họ mang tâm lý đó đi tìm câu trả lời từ thiên nhiên, tưởng tượng rằng mỗi thị tộc đều có quan hệ thân thuộc hoặc đặc biệt với một loài động vật, thực vật hoặc vật vô tri nào đó như núi, nước, đá, mây… Họ coi những thứ đó là vật tổ để thờ phụng, mong nhận được sự bảo hộ, và gọi đó là “totem”. Totem ấy khi được thêm bộ “nữ” sẽ trở thành danh xưng của thị tộc, và đây chính là nguồn gốc sớm nhất của chữ “họ”.

Theo nghiên cứu của các chuyên gia, họ “Khương” cổ nhất Trung Quốc có totem là con dê, họ “Vân” có totem là mây. Trong Kinh Thi có nói về một người phụ nữ tên là “Khương Nguyên”, do không có con nên đến vùng hoang dã cầu trời ban con. Bà đạp phải dấu chân của người khổng lồ, cảm động tâm linh, rồi mang thai và sinh ra tổ tiên của người Chu. Người Chu mang họ “Cơ”, chữ “Cơ” bên trái là “nữ”, bên phải là hình tượng dấu chân con gấu, vì totem của người Chu là gấu.

Trong xã hội thị tộc phụ hệ, người ta thực hành chế độ một vợ một chồng, đứa trẻ sinh ra không chỉ biết mẹ mà còn biết cha là ai; quan hệ huyết thống với người cha trở nên rõ ràng. Sau này, những người con trai cùng cha khi trưởng thành lập gia đình và sinh con đẻ cái thì lại tạo thành những gia đình mới. Khi gia tộc trở nên quá lớn, những người con sẽ phải tách ra sống ở nơi khác. Thông thường, con cả sẽ ở lại thừa kế tài sản và họ của cha, còn những người con khác dù vẫn giữ họ cũ, nhưng để phân biệt với gia tộc khác cũng có cùng họ, họ sẽ thêm vào một danh xưng mới cho gia đình mình – đó chính là “thị”. Rõ ràng, “thị” vốn là phụ thuộc của “họ”, sau này mới dần trở nên độc lập, vì vậy thường có hiện tượng “cùng họ khác thị”. Trong xã hội nô lệ, chỉ có tầng lớp quý tộc mới có họ và thị. Thời cổ đại, vai trò của họ và thị là khác nhau: họ thể hiện quan hệ huyết thống và dùng để cấm hôn – nam nữ cùng họ, dù khác thị, cũng không được kết hôn; còn khác họ cùng thị thì có thể lấy nhau. Ban đầu, tên thị thường lấy theo tên đất phong, chức quan… nên “thị” còn phản ánh địa vị xã hội.

Trong các họ Trung Quốc hiện tồn tại, những chữ mang bộ “耳刀” (phía phải) hầu hết đều bắt nguồn từ tên nước, đất phong hoặc tên thành thị, như Đặng, Hình, Lang, Quách, Trịnh… Còn các họ như Hoa, Tưởng, Mông, Cái, Tô, Trần, Dương… vốn cũng đều là tên địa danh, tổng cộng có đến cả ngàn cái. Ngày xưa, chức quan phụ trách xây dựng gọi là “Tư Không”, phụ trách quân đội và tài chính quân sự là “Tư Mã”, phụ trách công an, luật pháp, nhà tù là “Tư Khấu”, phụ trách giáo dục, đào tạo quan lại là “Tư Đồ”… Sau này những chức danh ấy đều trở thành họ, là một phần nguồn gốc của họ kép. Nhắc đến “Gia Cát Lượng” thì hầu như ai cũng biết, vậy họ kép “Gia Cát” từ đâu mà có? Theo sử sách, họ Gia Cát có hai nguồn gốc, tổ tiên đều là họ Cát: một nhánh vốn sống ở Chư Thành (tỉnh Sơn Đông ngày nay), sau đó chuyển đến Dương Đô, vì ở đó đã có người họ Cát, nên gọi họ mới đến là “Gia Cát”; một nhánh khác xuất hiện vào cuối nhà Tần, trong quân khởi nghĩa nông dân có một tướng quân tên là Cát Anh, lập được nhiều công lao, đến đời nhà Hán, hoàng đế phong cháu ông làm vương của Chư Thành, gia đình này sau đó cũng đổi thành họ Gia Cát.

Từ thời Tần trở đi, nô lệ được giải phóng, trở thành dân tự do, từ đó ai cũng có họ. Trong đời sống hàng ngày, khái niệm “họ” và “thị” dần dần không còn phân biệt nữa. Những họ mới sinh ra thường khá ngẫu nhiên, ví dụ người làm gốm thì lấy “Đào” làm họ; người làm thầy cúng thì lấy “Vu” làm họ; người sống gần ao, vườn thì thành họ “Trì”, “Viên”… Vào thời Đông Hán, có một văn nhân nổi tiếng tên là Đông Phương Sóc. Cha anh vốn họ Trương nhưng mất trước khi anh ra đời, mẹ anh cũng qua đời ba ngày sau khi sinh. Một người hàng xóm thấy anh tội nghiệp nên nhận nuôi. Người ta kể rằng khi anh ra đời, phương Đông vừa sáng, nên lấy “Đông Phương” làm họ, đặt tên là Đông Phương Sóc. Hiện tượng đổi họ như vậy xảy ra khá nhiều, đặc biệt trong xã hội phong kiến, người dân không được gọi thẳng tên vua hay trưởng bối, mà phải dùng từ khác thay thế, nếu không sẽ bị cho là bất kính, nặng thì có thể bị xử tử. Khi một vị hoàng đế mới lên ngôi, nếu tên của ông trùng với họ của dân thường, dân phải đổi họ thành một chữ khác có ý nghĩa tương đương, âm giống hoặc gần giống, hoặc có hình dáng tương tự. Ví dụ, vào thời Hán, vua Minh Đế tên là Lưu Trang, lúc đó những người mang họ “Trang” đều phải đổi thành họ “Nghiêm” (nghiêm túc, nghiêm chỉnh), thậm chí bạn học của cha vua là Trang Tử Lăng cũng phải đổi thành Nghiêm Tử Lăng. Mãi đến khi nhà Hán diệt vong, có người mới đổi lại họ cũ là “Trang”, còn có người thì vẫn giữ họ “Nghiêm” cho đến nay.

Chữ “名” (tên) trong chữ Hán, phía trên là “夕” (tối), phía dưới là “口” (miệng). Ý nghĩa ban đầu của “tên” là: buổi tối mở miệng gọi nhau. Ngày xưa, khi con người chưa có tên, gặp nhau chỉ có thể gật đầu hoặc ra hiệu chào. Ban ngày còn tạm, nhưng đến tối không nhìn rõ mặt, thì phải dùng miệng gọi. Thế là dần dần con người có tên. Lúc đầu tên khá đơn giản, thường dựa theo đặc điểm ngoại hình, ví dụ người béo gọi là “Béo”, người cao gọi là “Cao lớn”.

Trước đây, tên người Trung Quốc – đặc biệt là ở nông thôn – rất tùy tiện. Tên con gái thường gắn với từ như “hoa, cỏ, thơm, hiền, đàn, cúc”… còn con trai thì thường là “trụ sắt, trứng sắt, khóa vàng, khóa bạc, khóa đồng, núi lớn, đá, bò con”… mục đích chỉ để mong con gái lớn lên xinh đẹp, hiền thục, còn con trai thì khỏe mạnh, an toàn, lớn lên làm việc được, đủ ăn đủ mặc. Sau này, nhất là trong các gia đình có học, tên gọi ngày càng được trau chuốt, thường mang ý nghĩa sâu sắc.

Danh họa nổi tiếng Trung Quốc – Từ Bi Hồng – lúc nhỏ nhà rất nghèo, không được đi học, cảm thấy rất cô đơn, như con ngỗng trời lạc đàn, nên đổi tên thành “Bi Hồng”, trong đó “Hồng” nghĩa là đại nhạn (ngỗng lớn). Nhà địa chất học quá cố nổi tiếng Lý Tứ Quang, tên thật ban đầu là Lý Trọng Khuê. Ông thông minh, hiếu học từ nhỏ, 14 tuổi đăng ký thi du học Nhật Bản bằng học bổng và đỗ đầu. Khi điền phiếu đăng ký, ông vô tình ghi tuổi vào mục “Họ tên”, thành ra tên là “14”. Không có tiền mua phiếu mới, ông nhanh trí đổi chữ “Thập” thành họ “Lý”, thấy “Lý Tứ” nghe không hay, bèn thêm chữ “Quang”. “Tứ Quang” mang nghĩa “bốn phía rực sáng”. Vậy là từ Lý Trọng Khuê, ông trở thành Lý Tứ Quang nổi danh thiên hạ. Tác giả quốc ca Trung Quốc – Nhạc Nhĩ – tên thật là Nhạc Thủ Tín. Sau này mọi người phát hiện tai ông rất thính, phản ứng nhanh nhạy với âm thanh, mẹ ông bèn đổi tên thành Nhạc Nhĩ, như thể toàn thân ông là một cái tai, và quả nhiên sau này ông đạt thành tựu lớn trong âm nhạc!