Bàn về hoạt động đối ngoại của Việt Nam (1945-nay) và sự nghiệp của Hồ Chí Minh
HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM
Sau Cách mạng tháng Tám năm , nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải đối mặt với tình thế vô cùng hiểm nghèo, thường được ví như ‐ngàn cân treo sợi tóc‐. Một trong những khó khăn lớn nhất là việc phải đối phó đồng thời với thù trong và giặc ngoài. Ở miền Bắc, có sự hiện diện của vạn quân Tưởng Giới Thạch với âm mưu ‐diệt Cộng cầm Hồ‐. Ở miền Nam, quân Anh được sự hỗ trợ của Mỹ đã tạo điều kiện cho thực dân Pháp quay trở lại xâm lược. Trước tình thế đó, mục tiêu tối thượng của hoạt động đối ngoại trong giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám đến trước ngày là để tránh một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù, bảo vệ thành quả của Cách mạng tháng Tám năm . Trong thời gian này, Việt Nam đã thực hiện chính sách ngoại giao mềm dẻo nhưng kiên định: từ tháng đến tháng , Chủ tịch Hồ Chí Minh liên tục gửi thông điệp, thư và công hàm cho Liên hợp quốc cùng những người đứng đầu các nước lớn như Mỹ, Anh, Liên Xô, Trung Quốc để khẳng định tính hợp pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Trong quan hệ với thực dân Pháp, Việt Nam đã có những nhượng bộ có nguyên tắc. Ngày , Hiệp định Sơ bộ được ký kết, tạo điều kiện đẩy vạn quân Tưởng về nước, trong khi Pháp chỉ được lưu lại Việt Nam quân (trong đó có quân nhân số cũ) và sẽ rút dần trong vòng năm. Tiếp đó, vào ngày , Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký bản Tạm ước với Pháp tại Paris để tiếp tục duy trì hòa bình, tranh thủ thời gian chuẩn bị cho cuộc kháng chiến tất yếu. Hoạt động đối ngoại trong giai đoạn này mang bản chất hòa bình, hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc toàn vẹn và vĩnh viễn.
ĐỐI NGOẠI TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP VÀ CHỐNG MỸ ( - )
Từ năm , vị thế quốc tế của Việt Nam có bước ngoặt lớn khi Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Sự kiện này giúp Việt Nam nhận được sự hỗ trợ to lớn về cả tinh thần và vật chất. Năm , Liên minh Việt - Miên - Lào được thành lập như một liên minh tự nguyện của ba nước Đông Dương nhằm đoàn kết chống lại kẻ thù chung. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội, Hội nghị Giơ-ne-vơ () đã được triệu tập để giải quyết vấn đề Đông Dương. Kết quả của hiệp định này là miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, trở thành hậu phương vững chắc cho sự nghiệp thống nhất đất nước, mặc dù miền Nam vẫn chưa được giải phóng và đất nước bị chia cắt tạm thời.
Giai đoạn - , mục đích đối ngoại của Việt Nam là đấu tranh đòi Mỹ và chính quyền Diệm phải thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơ-ne-vơ. Bước sang giai đoạn - , nhiệm vụ đối ngoại tập trung vào việc tố cáo tội ác chiến tranh xâm lược của Mỹ, tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới. Cuộc kháng chiến chống Mỹ diễn ra trên hai mặt trận chính: mặt trận số một là chiến trường Việt Nam; mặt trận số hai nằm ngay tại nước Mỹ, bao gồm cuộc đấu tranh của người da đen chống phân biệt chủng tộc và phong trào của người da trắng Mỹ chống chiến tranh xâm lược. Sau thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân () và đặc biệt là chiến thắng ‐Điện Biên Phủ trên không‐ cuối năm , Mỹ đã bị buộc phải ký kết Hiệp định Pa-ri vào ngày . Hiệp định này đã tạo ra sự so sánh lực lượng có lợi cho cách mạng Việt Nam, buộc Mỹ phải rút quân về nước, tạo tiền đề cho đại thắng năm .
NGOẠI GIAO VIỆT NAM TỪ NĂM ĐẾN NAY VÀ QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP
Sau khi thống nhất đất nước, từ năm đến năm , Việt Nam đặc biệt chú trọng phát triển quan hệ hữu nghị với các nước láng giềng như Lào và hợp tác chặt chẽ với Liên Xô. Năm , Việt Nam chính thức gia nhập Hội đồng Tương trợ Kinh tế (SEV). Hoạt động đối ngoại trong thời kỳ này cũng tập trung vào việc chống lại cuộc bao vây cấm vận của Mỹ. Từ khi thực hiện công cuộc Đổi mới (), Đại hội VII của Đảng đã đề ra định hướng: ‐Hợp tác bình đẳng cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị‐. Việt Nam đã thành công trong việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc () và Mỹ (), đồng thời gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm .
Việt Nam cũng đã ký kết nhiều hiệp ước về biên giới trên đất liền, điển hình là với Trung Quốc, nhằm xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị. Tính đến tháng , Việt Nam đã thiết lập mối quan hệ ‐Đối tác chiến lược toàn diện‐ với quốc gia. Việt Nam cũng khẳng định năng lực và vị thế quốc tế thông qua việc tổ chức thành công các hội nghị quốc tế quan trọng như APEC. Nền ngoại giao Việt Nam hiện đại được đánh giá là mang ‐hồn dân tộc‐, kiên định về nguyên tắc (‐dĩ bất biến‐ là lợi ích dân tộc) nhưng ứng xử tinh tế, linh hoạt (‐ứng vạn biến‐), kết hợp giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước tại Nghệ An, mảnh đất giàu truyền thống đấu tranh và ý chí trong học tập. Người từng theo học tại trường Quốc học Huế và có thời gian dạy học tại trường Dục Thanh (Phan Thiết). Trước bối cảnh dân tộc bị thực dân Pháp đô hộ, mâu thuẫn dân tộc trở nên gay gắt, nhiệm vụ cấp bách nhất là giành độc lập dân tộc. Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy những hạn chế trong con đường của các bậc tiền bối: Người cho rằng chủ trương cải cách của cụ Phan Châu Trinh chẳng khác nào ‐xin giặc rủ lòng thương‐, con đường dựa vào Nhật của cụ Phan Bội Châu là ‐đưa hổ cửa trước rước beo cửa sau‐, còn cụ Hoàng Hoa Thám tuy thực tế hơn nhưng vẫn nặng cốt cách phong kiến.
Ngày , từ bến cảng Nhà Rồng, với tên gọi Văn Ba, Người ra đi tìm đường cứu nước hướng sang phương Tây để tìm hiểu về văn minh Pháp và xem những gì ẩn đằng sau khẩu hiệu ‐Tự do - Bình đẳng - Bác ái‐. Trong hành trình từ năm đến , Người đã đi qua nhiều quốc gia và châu lục (trong đó không có Nhật Bản theo các dữ liệu thảo luận). Năm , Người tham gia Đảng Xã hội Pháp. Sự kiện mang tính bước ngoặt diễn ra vào tháng khi Người đọc bản ‐Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa‐ của Lê-nin đăng trên báo Nhân Đạo. Từ đây, Người đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc: con đường cách mạng vô sản. Tháng , Người bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế thứ Ba, trở thành người cộng sản đầu tiên của Việt Nam.
VAI TRÒ CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC TRONG VIỆC THÀNH LẬP ĐẢNG VÀ CHỈ ĐẠO CÁCH MẠNG
Sau khi tìm thấy con đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào Việt Nam. Người sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên () và viết tác phẩm ‐Đường kách mệnh‐ () để trang bị lý luận cho cán bộ. Năm , Người lập ra Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa tại Pháp và làm chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ báo ‐Người cùng khổ‐ (Le Paria). Đầu năm , với tư cách phái viên của Quốc tế Cộng sản, Người đã triệu tập và chủ trì hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc) để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, soạn thảo Cương lĩnh chính trị đầu tiên với tư tưởng cốt lõi là ‐độc lập và tự do‐.
Ngày , sau năm bôn ba, Người trở về nước qua cột mốc (Cao Bằng) để trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ (tháng ), Người đã chủ trì việc thành lập Mặt trận Việt Minh và xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là ưu tiên hàng đầu. Người cũng chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân () - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Suốt đời mình, Hồ Chí Minh đã cống hiến trọn vẹn cho sự nghiệp cách mạng, phục vụ tổ quốc và nhân dân. Người qua đời ngày , để lại niềm tiếc thương vô hạn cho nhân dân Việt Nam và thế giới. UNESCO đã tôn vinh Người là Anh hùng giải phóng dân tộc và Danh nhân văn hóa thế giới vì những đóng góp to lớn cho hòa bình, độc lập và tiến bộ xã hội của nhân loại.