Các bài văn thi tuyển sinh
==Viếng lăng bác==
Viễn Phương là cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải phóng ở miền Nam thời kì thời kháng chiến chống Mỹ. Đề tài trong thơ ông viết về vị lãnh tụ vĩ đại. Bài thơ “ Viếng lăng Bác" được sáng tạo năm 1976 khi đất nước thống nhất, lăng Bác được khánh thành và tác giả được vào thăm lăng Bác. Bài thơ là cảm xúc của nhà thơ khi đứng trước lăng Bác, khi vào trong lăng Bác và những cảm xúc dâng trào cùng những ước nguyện khi ra về
Năm 1976, đất nước thống nhất, lăng chủ tịch Hồ Chí Minh được khánh thành; tác giả theo đoàn từ Nam ra viếng lăng Bác. Cảm xúc của một người con lần đầu tiên ra thăm lăng Bác thực sự dồn nén trong trái tim của tác giả. Bài thơ như một lời tri ân, lòng thành kính của một đứa con phương xa được trở về thăm người. Có lẽ những câu thơ này như nói hộ tấm lòng của rất nhiều người, rất nhiều con dân Việt Nam được ra thăm lăng Bác.
\
“ Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác \n Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát \n Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam \n Bão táp mưa sa, đứng thẳng hàng. \n \n Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng \n Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ \n Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ \n Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân… \n \n Bác nằm trong giấc ngủ bình yên \n Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền \n Vẫn biết trời xanh là mãi mãi \n Mà sao nghe nhói ở trong tim. \n \n Mai về miền Nam thương trào nước mắt \n Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác \n Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây \n Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này… “\n Xuyên suốt bài thơ chính là mạch cảm xúc rưng rưng, xúc động, không kìm nổi lòng mình khi đứng trước một người anh hùng dân tộc. Bài thơ được mở đầu như một tiếng reo vui:
\
“Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác \n Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát \n Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam \n Bão táp mưa sa, đứng thẳng hàng.”\
Bài thơ mở đầu với lời xưng hô “con- Bác” vô cùng nhẹ nhàng và thân mật gần gũi %%như những người thân trong gia đình%% , giữa cha và con. lời xưng hô ấy là lời chào của người con từ miền Nam ra thăm lăng Bác. Cách nói giảm nói tránh “ thăm lăng bác” dường như trong trái tim bác vẫn sống mãi nhưng giờ đây bác đã đi xa. Khi đến thăm lăng Bác Viễn Phương đã bắt gặp hình ảnh “ hàng tre bát ngát” quanh năm. Hàng tre ấy được quanh lăng bác %%gợi%% ( ~~tạo~~ ) cảm giác thân thuộc như được trở với về quê hương. Cây tre là loài cây nhỏ bé dẻo dai không chịu khuất phục bão mưa sa. Ngắm nhìn hàng tre mà nhà %%thơ không khỏi bồi hồi%% xúc động “Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam”. Dòng cảm xúc dâng trào được thể hiện qua từ “ Ôi “ cùng nghệ thuật ẩn dụ hàng tre xanh xanh tượng trưng cho cả dân tộc Việt Nam đang hội tụ quay quần bên Bác\
Không chỉ nhìn thấy hàng tre mà Viễn Phương còn nhìn thấy hình ảnh mặt trời\
“ Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng \n Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ \n Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ \n Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân…”\
%%Điệp từ “ ngày ngày “ chỉ thời gian đều đặn như một vòng lặp vô tận%% mỗi ngày mặt trời của thiên nhiên vẫn luôn đem lại nguồn sáng đến trái đất. Mặt trời ấy cũng đi qua trên lăng sưởi ấm nơi Bác yên nghỉ. Ngắm nhìn mặt trời của thiên nhiên nhà thơ lại liên tưởng đến “ mặt trời trong lăng “ hình ảnh ẩn dụ chỉ Bác Hồ, Viễn Phương muốn ca ngợi công lao tô lớn của Bác với đất nước, với dân tộc. Có thể nói Bác đã cống hiến cả cuộc đời cho dân tộc đánh dấu bằng bảy mươi chín mùa xuân. Chính vì thể dù đã đi xa nhưng mọi người vẫn nhớ về Bác hằng ngày những con từ khắp mọi miền tổ quốc với những bộ trang phục đẹp chậm rãi tiến về phía lăng Bác giống như một tràng hoa “ tràng hoa “ nghệ thuật ẩn dụ dòng người với không khí trang nghiêm thành kính đều hướng về phía lăng Bác với lòng thành kính biết ơn\
Có thể nói người con ở miền Nam xa xôi gặp người cha kính yêu là một khát khao “MIền Nam mong Bác nỗi mong cha “ và giờ đây niềm khao khát đã trở thành hiện thực. Bước chân vào lăng dòng cảm xúc nhà thơ lại trào dâng khi thấy hình ảnh :Bác nằm trong giấc ngủ bình yên \n Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền \n Vẫn biết trời xanh là mãi mãi \n Mà sao nghe nhói ở trong tim.
Không khí trong lăng thật yên tĩnh với hình ảnh Bác nằm với tư thế thanh thản và đang trong giấc ngủ bình yên. Cách nói giảm nói tránh trong tâm tưởng nhà thơ Bác vẫn còn sống mãi. Ngắm nhìn Bác mà nhà thơ lại xúc động khi nghĩ đến những năm tháng đất nước còn chiến tranh Bác có nhiều đêm không ngủ “ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà “. Giờ đây đất nước thống nhất Bác mới có giấc ngủ bình yên. Người nằm đó mà xung quanh là ánh sáng trong trẻo của vầng trăng. Vầng trăng trên trời cao kia cũng đi vào trong lăng sôi sáng nơi Người yên nghỉ. Dường như giữa người và thiên nhiên bao giờ cũng có sư giao hòa trăng đã trở thành đề tài trong thơ Bác và trở thành người bạn tri kỷ. Hay vầng trăng kia là chỉ Bác người có tâm hồn trong sáng thanh cao. Cách biểu đạt nghệ thuật ẩn dụ “ trời xanh “ ví Bác như bầu trời cao rộng mà nhà thơ muốn gợi ca sự vĩ đại trường tồn vĩnh cửu của người như hóa thân vào non sông đất nước sánh ngang cùng trời đất sống mãi trong lòng người. Cặp từ “ vẫn biết - mà sao “ lí trí tâm tưởng luôn khẳng định Bác vẫn sống nhưng trở lại hiện thực người đã đi xa một tổn thất lớn của dân tộc. Người mãi mãi đi làm cho lòng người đau nhói nỗi đau quặn thắt không nói lên lời
\
Chính vì vậy mà khi chân còn ở trên đất Bác nghĩ đến ngày mai trở về nhà thơ cảm thấy buồn, xúc động lưu luyến không muốn xa rời. Dòng cảm xúc ấy rất tự nhiên chân thành tuôn trào thành giọt nước mắt để rồi nha thơ bày tỏ những ước nguyện :Mai về miền Nam thương trào nước mắt \n Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác \n Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây \n Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này…
Viễn Phương muốn làm con chim để dâng tiếng hót hay nhất của mình nơi lăng Bác, muốn làm bông hoa để khoe sắc làm đẹp nơi Bác yên nghỉ muốn làm cây tre để đứng canh cho giấc ngủ của Người. Nghệ thuật ẩn dụ “ con chim, nhành hoa, cây tre “ chỉ nhà thơ Viễn Phương người muốn hóa thân vào những gì nhỏ bé nhưng đẹp đẽ để được gần gũi nơi Bác yên nghỉ. Điệp ngữ “ muốn làm “ điệp cấu trúc điệp cách phô diễn càng làm cho những ước nguyện chân thành tha thiết. Hình ảnh cây tre trung hiếu chấn còn là lời thề thiêng liêng nguyện trung thành với lý tưởng của người. Hình ảnh cây tre kết thúc ở cuối bài tạo cách kết thúc đầu cuối tương ứng
Bài thơ kết cấu của thể thơ tám chữ, từ ngữ hay, giàu cảm xúc, hình ảnh đẹp “ mặt trời, vầng trăng..” cách biểu đạt của nghệ thuật ẩn dụ cùng với giọng điệu nhẹ nhàng trang nghiêm thành kính đã diễn tả cảm xúc cảu nhà thơ khi đứng trước lăng Bác, vào trong lăng Bác và lúc ra về. Đó là tâm trạng của tất cả mọi người khi đến nơi đây. Và với những bài thơ của Tố Hữu hay “ Đêm nay Bác không ngủ “ của Minh Huệ, “ Người đi tìm hình củ nước “ của Chế Lan Viên các tác giả không chỉ đóng góp những bài thơ hay viết về Bác Hồ mà còn muốn ca ngợi về Người bằng tình cảm xuất phát từ tận đáy lòng, bằng tình yêu quý tự hào và biết ơn
Qua 4 khổ thơ với giọng điệu chân thành, bình dị, người đọc cảm nhận được tình cảm của nhà thơ miền Nam dành cho Bác kính yêu. Bài thơ khép lại nhưng vẫn đọng lại trong lòng người đọc những nỗi ám ảnh và những nỗi tiếc thương. Nhà thơ Viễn Phương không chỉ nói lên được tình cảm của mình mà còn nói thay cho toàn dân tộc. Thật đáng quý biết bao.
@@Bếp lửa@@
Tuổi thơ mỗi con người gắn với muôn vàn kỉ niệm bên người thân, bạn bè, bên cạnh đó là những cảm xúc, những tình cảm dành cho nhau để rồi khi mai sau lớn lên dùng tình cảm kỉ niệm ấy tiếp tục hành trang cuộc đời. Rất nhiều tác phẩm văn học thơ, truyện ngắn được các tác giả lấy cảm hứng từ tình cảm thiêng liêng ấy, tình cảm vợ chồng, tình mẹ con, tình đồng chí, tình yêu quê hương đất nước,… Tác giả Bằng Việt đã sáng tác bài thơ Bếp Lửa với tình cảm và niềm nhung nhớ dành cho người bà của mình khi đang du học tại Liên Xô vào năm 1963. Hình ảnh đứa cháu cùng người bà đã trải qua cuộc sống khổ cực nhưng tràn ngập tình yêu thương, chăm sóc, quan tâm, che chở trong những ngày bố mẹ đi làm xa và niềm hạnh phúc bên bếp lửa ấm áp tình thương
Qua hồi tưởng suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, bài thơ Bếp Lửa gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu trân trọng và thể hiện lòng biết ơn của người cháu đối với bà và cũng là đối với gia đình quê hương, đất nước
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm \n Một bếp lửa ấp iu nồng đượm \n Cháu thương bà biết mấy nắng mưa! \n \n Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói \n Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi, \n Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy, \n Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu \n Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay! \n \n Tám năm ròng, cháu cùng bà nhóm lửa \n Tu hú kêu trên những cánh đồng xa \n Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà? \n Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế. \n Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế! \n Mẹ cùng cha công tác bận không về, \n Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe, \n Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học, \n Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc, \n Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà, \n Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa? \n \n Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi \n Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi \n Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh \n Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh: \n “Bố ở chiến khu, bố còn việc bố, \n Mày có viết thư chớ kể này kể nọ, \n Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!” \n \n Rồi sớm rồi chiều, lại bếp lửa bà nhen, \n Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn, \n Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng… \n \n Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa \n Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ \n Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm \n Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm, \n Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi, \n Nhóm niềm xôi gạo mới, sẻ chung vui, \n Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ… \n Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa! \n \n Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu, \n Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả, \n Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở: \n - Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?…
Chính vì vậy mà khi lớn lên, phải xa nhà, xa bà, có bao nhiêu nỗi nhớ, tác giả dàng cả cho bà của mình để rồi bài thơ “ Bếp Lửa" đã ra đời nỗi nhớ ấy. Bếp Lửa ở đây không đơn thuần chỉ là bếp lửa, nó còn có cả tình yêu thương của bà ở trong đó :
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm \n Một bếp lửa ấp iu nồng đượm \n Cháu thương bà biết mấy nắng mưa!
Hình ảnh một bếp lửa chỉ vừa mới xuất hiện nhưng nó đã đi kèm với các từ láy như chờn vờn, ấp iu khiến cho người đọc cảm nhận được tình cảm ấm áp của chan chứa của người cháu dành cho bà của mình. Câu thơ thứ ba một lần nữa khẳng định cho tình cảm ấy. Đó là tình thương của cháu dành cho người bà đã phải chịu nhiều vất vả, nắng mưa. Cùng với tình thương ấy, những hồi ức của tuổi thơ hiện lên trong đầu tác giả
\
Mọi thứ vẫn còn nguyên vẹn nên cứ ngỡ như là chuyện vừa mới xảy ra ngày hôm qua vậy:Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói \n Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi, \n Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy, \n Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu \n Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay! \n
Năm đói mòn đói mỏi ấy chính là năm 1975, nhân dân miền Bắc rơi vào nạn đói khủng khiếp. Nó cướp đi sinh mạng của không biết bao nhiêu người dân vô tội. Nhà thơ đã lớn lên trong bối cảnh đất nước như vậy thế nhưng trong ký ức nhà thơ không có hình ảnh người chết đầy đường, không bị mùi tanh thối ám ảnh
Đó là bởi vì mùi khói bếp đã át đi hết những cảnh đau thương ngoài kia. Đó là cách để người ba làm cho cuộc sống của cháu bớt đau thương hơn. Mùi khói đã hun nhèm đôi mắt của người cháu để rồi hơn mười năm sau, nghĩ lại chuyện cũ sống mũi vẫn còn cay. Có lẽ sự xúc động đã khiến cho mắt nhà thơ nhòe đi, cay xè vì những kỉ niệm đói khổ
\
Bà đã cùng cháu đi qua những năm tháng đói khổ như vậy. Để rồi suốt những năm tháng tuổi thơ, hình ảnh người bà vẫn gắn liền bên cháu. Hai bà cháu đã cùng nhau nhóm lên không biết bao nhiêu ngọn lửa trong suốt 8 năm ròng :Tám năm ròng, cháu cùng bà nhóm lửa \n Tu hú kêu trên những cánh đồng xa \n Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà? \n Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế. \n Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!
Hình ảnh cháu cùng bà nhóm lửa thể hiện sự gắn kết giữa bà cháu. Không chỉ là nhóm lửa, đó còn là nhóm lên sự sống, nhóm lên tình yêu. Từ hình ảnh nhóm bếp lưa đã gợi lên trong nhà thơ những hình ảnh khác đó là tiếng chim tu hú kêu. Đối với người nông dân Việt Nam tiếng chim tu hú đã trở thành tiếng kêu quen thuộc và là sự báo hiệu cho một mùa lúa chín
Tiếng tu hú kết vì vậy tượng trung cho sự no đủ của người dân. Tiếng tu hú kết như tiếng của chiếc đồng hồ báo thức nhắc nhở người bà rằng đã đến giờ kể chuyện cho cháu nghe. Trong một đoạn thơ mà tiếng tu hú kêu được lặp lại tới 3 lần khiến cho độc giả có cảm tưởng như tiếng tu hú đang từ xa vọng về. Nó khiến cho lòng người cháu ở nơi xa cứ lâng lâng. Tiếng tu hú kéo nỗi nhớ của nhà thơ về khiến cho nó dài hơn, rộng hơn
\
Bà không chủ kể chuyện, bà còn dạy bảo cho cháu nhiều điều, thay cha mẹ chăm lo cho cháu để cháu được nên người :Mẹ cùng cha công tác bận không về, \n Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe, \n Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học, \n Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc, \n Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà, \n Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa? \n
Ngôi nhà nhỏ vắng người, chỉ có hai bà cháu. Bà đã thay cha mẹ, làm nhiệm vụ của cha mẹ đó là dạy cháu làm, chăm cháu học. Bà dù già yếu nhưng vẫn tận tụy hết lòng vì cháu. Chính vì vật mà hình ảnh bếp lửa, hình ảnh người bà hiện lên càng ấm áp hơn. Hai bà cháu đã nương tựa vào nhau để sống qua những ngày tháng khó khăn như vây. Chính từ tình cảm ấy nên khi nhà thơ đi xa, nỗi nhớ thương bà càng lớn hơn
\
Nhà thơ đi xa rồi, thương cho bà ở nhà không có ai chăm sóc. Câu hỏi tu từ Tu hú ơi chẳng đến ở cùng bà giống như một lời than thở thể hiện nỗi nhớ mong bà sâu sắc. Hai từ bà, cháu được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong đoạn thơ này, thể hiện sự sóng đôi, quấn quýt, gắn bó giữa bà và cháu. Những năm tháng chiến tranh, hai bà cháu đã cùng nhau trải quy nhiều khó khăn khi mà ngôi nhà bị cháy rụi :\
Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi \n Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi \n Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh \n Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh: \n “Bố ở chiến khu, bố còn việc bố, \n Mày có viết thư chớ kể này kể nọ, \n Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”\
Chính từ trong khó khăn đó, nghị lực của người bà càng trở nên bền vững hơn. Những câu thơ vừa cho thấy bà là người cần cù, nhẫn nạ và giàu đức hi sinh. Ngôi nhà của hai bà cháu dù bị giặc đốt cho cháy rụi nhưng thương con đang công tác xa nhà, không muốn con phải lo lắng bà đã dặn cháu không được nói gì với bố\
Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhenMột ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng
\
Từ "bếp lửa", đứa cháu nghĩ về "ngọn lửa". Một hình tượng rất tráng lệ. "Bếp lửa bà nhen" sớm sớm chiều chiều đã sáng bừng lên thành ngọn lửa bất diệt, ngọn lửa của tình thương "luôn ủ sẵn", ngọn lửa của niềm tin vô cùng "dai dẳng" bền bỉ và bất diệt. Cùng với hình tượng "ngọn lửa", các từ ngữ chỉ thời gian: "rồi sớm rồi chiều", các động từ: "nhen, ủ sẵn, chứa" (chứa niềm tin dai dẳng) đã khẳng định ý chí, bản lĩnh sống của bà, cũng là của người phụ nữ Việt Nam giữa thời loạn lạc\
Tám câu thơ tiếp theo là những suy ngẫm sâu sắc của nhà thơ, của đứa cháu về người bà yêu kính, về bếp lửa trong mỗi gia đình Việt nam chúng ta. Cuộc đời bà nhiều "lận đận", trải qua nhiều "nắng mưa" vất vả. Bà cần mẫn lo toan, chịu thương chịu khó, thức khuya dậy sớm vì bát cơm, manh áo của con cháu trong gia đình. Vần thơ chứa đựng bao nghĩa nặng tình sâu. Cháu vô cùng cảm phục và biết ơn bà:\
Lận đận đời bà biết mấy nắng mưaMấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Bà không chỉ là người giữ bếp giữ lửa mà còn là người nhóm bếp, nhóm lửa:
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
\
Điệp từ "nhóm" trong 4 câu thơ có điểm chung là cùng gắn với hành động nhóm bếp. nhóm lửa của bà nhưng lại khác nhau ở những ý nghĩa cụ thể: khi thì nhóm bếp lửa ấp iu, nồng đượm để sưởi ấm cho bà cháu qua cái lạnh của sương sớm; đến câu tiếp theo thì đã vừa nhóm bếp luộc khoai, luộc sắn cho cháu ăn đỡ đói lòng mà như còn đem đến cho đứa cháu nhỏ cái ngọt bùi của sắn khoai, của tình thương vô hạn của bà. Đến câu tiếp theo thì lòng bà còn mở rộng hơn cùng với nồi xôi gạo mới là tình cảm xóm làng đoàn kết, gắn bó, chia ngọt sẻ bùi và đến câu thứ tư thì hoàn toàn mang nghĩa trừu tượng: nhóm dậy tâm tình tuổi nhỏ. Tâm hồn và khát vọng tuổi thơ đã sáng bừng lên từ ngọn lửa do bà nhóm suốt mất chục năm trời.Chính từ đó mà, theo mạch suy ngẫm, nhà thơ đi lên khái quát rất tự nhiên và hợp lý: "Ôi kỳ diệu và thiêng liêng - bếp lửa". Đúng vậy, vì bếp lửa thật giản dị, bình thường và phổ biến trong mọi gia đình Việt Nam, nhưng bếp lửa cũng thật cao quý, kỳ diệu và thiêng liêng vì nó luôn gắn liền với bà - người giữ lửa, nhóm lửa, truyền lửa, người tạo nên tuổi thơ của cháu. Bếp lửa trở thành một mảnh tâm hồn, một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của cháu.
Bốn câu kết thể hiện một cách đằm thắm tình thương nhớ, lòng kính yêu và biết ơn của đứa cháu bé bỏng nay đã đi xa:
\
Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàuCó lửa trăm nhà , niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở
Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?
\
Cuộc đời mới thật vui, thật đẹp vì đã "có ngọn khói trăm tàu", đã "có ngọn lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả", nhưng cháu vẫn không nguôi nhớ bà, nhớ bếp lửa gia đình thương yêu. Không gian và thời gian xa cách, và dù cuộc đời có đổi thay, nhưng tình thương nhớ bà vẫn thiết tha mãnh liệt. Trở về thời hiện tại, nhà thơ lại muốn hỏi bà, nhắc bà việc nhóm bếp để nói cái ý không bao giờ quên quá khứ, không bao giờ quên được hình ảnh bà với bếp lửa của một thời thơ ấu nghèo khổ,gian nan mà ấm áp nghĩa tình. Như vậy, hình ảnh trung tâm (bếp lửa) mở đầu, khơi nguồn mạch cảm xúc của bài thơ, của dòng hồi tưởng đã được khép lại bằng chính hình ảnh ấy."Bếp lửa" là một bài thơ hay và độc đáo. Bài thơ không chỉ nói về bà, về tình bà cháu mà còn có ý nghĩa triết lý thầm kín. Những gì là thân thiết nhất của tuổi thơ mỗi người đều có lúc tỏa sáng, nâng đỡ con người suốt cả cuộc đời. Tình yêu thương và lòng biết ơn bà chính là một biểu hiện của tình yêu thương, gắn bó với gia đình, quê hương và đó cũng là khởi đầu của tình người, tình yêu nước. Lời thơ đẹp, chất thơ trong trẻo, trẻ trung. Hình tượng thơ: "bếp lửa", "khói hun", "ngọn lửa", "tiếng chim tu hú" bổ sung kết hợp thật tự nhiên giữa kể và tả bằng dòng hồi tưởng và suy ngẫm rất thơ và đầy ấn tượng.
@@Ánh trăng@@
Nguyễn Duy thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước. Thế hệ này từng trải qua bao thử thách, gian khổ của chiến tranh, chứng kiến bao hi sinh lớn lao của đồng đội nói riêng và nhân dân ta nói chung trong cuộc chiến. Bài thơ “Ánh trăng” được Nguyễn Duy sáng tác năm 1978, ba năm sau ngày giải phòng miền Nam 1975, là để giải bày những cảm xúc và suy tư của mình trước thực tế có người còn ghi nhớ nhưng cảm xúc và suy tư của mình trước thực tế có người còn ghi nhớ những mất mát hi sinh năm xưa, có người lại lãng quên quá khứ
Bài thơ là câu chuyện nhỏ được kể theo trình tự thời gian từ quá khứ đến hiện tại gắn với các mốc sự kiện trong cuộc đời con người. Theo dòng tự sự ấy, mạch cảm xúc đi từ quá khứ đến hiện tại và lắng kết trong cái "giật mình" cuối bài thơ.Từ một câu chuyện riêng, bài thơ như một lời nhắc nhở chính mình, củng cố, cảnh tỉnh ở người đọc về thái độ sống “uống nước nhớ nguồn”, ân nghĩa thuỷ chung với qúa khứ.
Hồi nhỏ sống với đồng \n với sông rồi với bể \n hồi chiến tranh ở rừng \n vầng trăng thành tri kỉ
Trần trụi với thiên nhiên \n hồn nhiên như cây cỏ \n ngỡ không bao giờ quên \n cái vầng trăng tình nghĩa
Từ hồi về thành phố \n quen ánh điện, cửa gương \n vầng trăng đi qua ngõ \n như người dưng qua đường
Thình lình đèn điện tắt \n phòng buyn-đinh tối om \n vội bật tung cửa sổ \n đột ngột vầng trăng tròn
Ngửa mặt lên nhìn mặt \n có cái gì rưng rưng \n như là đồng là bể \n như là sông là rừng
Trăng cứ tròn vành vạnh \n kể chi người vô tình \n ánh trăng im phăng phắc \n đủ cho ta giật mình.
\
Mở đầu bài thơ, tác giả đã có thấy sự gắn bó giữa bản thân và vầng trăng:Hồi nhỏ sống với đồng \n với sông rồi với bể \n hồi chiến tranh ở rừng \n vầng trăng thành tri kỉ
Trần trụi với thiên nhiên \n hồn nhiên như cây cỏ \n ngỡ không bao giờ quên \n cái vầng trăng tình nghĩa
Hồi nhỏ là hồi còn bé thơ, còn sống với làng quê với trăng sáng. Lúc ấy con người hồn nhiên, chứa toan tính điều gì. Trăng là một phần của thiên nhiên gắn kết với cuộc sống con người. Trăng đến trăng đi mang theo nhiều điều mơ ước, chứa đựng biết bao tâm tư tình cảm. Trăng với người như hình với bóng, không sao xa rời
Những năm tháng gian khổ, ác liệt thời chiến tranh, “vầng trăng thành tri kỷ”, lúc nào cũng kề cận, soi bước hành quân, soi trong giấc ngủ. Nghệ thuật nhân hóa đặc sắc, trăng là người bạn thân thiết, tri âm tri kỉ, là đồng chí cùng chia sẻ nhưng vui buồn trong chiến trận với người lính, của nhà thơ
Hành quân giữa đêm, trên những nẻo đường chông gai ra mặt trận nhưng phiên gác giữa rừng khuya lạnh lẽo, những tối nằm yên giấc dưới màn trời đen đặc, người lính đều có vầng trăng bên cạnh. Trăng ở bên bầu bạn, cùng trải qua bao gian khổ của cuộc sống chiến đấu, cùng chia ngọt sẻ bùi, đông cam cộng khổ, cùng hân hoan trong niềm vui tháng trận, cùng xao xuyến, bồn chồn, khắc khoải mỗi khi người lính nhớ nhà, nhờ quê…
\
Trăng đã cùng con người vượt qua biết bao gian nan, vào sinh ra từ. Bởi thế, người lính cảm động biết bao, tự hứa với lòng “không bao giờ quên cái vầng trăng tình nghĩa” ấy. Đến khi chiến tranh kết thúc, được về sống ở thành phố, cuộc sống thay đổi khiến con người cũng thay đổi :Từ hồi về thành phố \n quen ánh điện, cửa gương \n vầng trăng đi qua ngõ \n như người dưng qua đường
Cuộc sống tiện nghi, đầy đủ, khác xa với những tháng ngày trước đó đã khiến con người quên hẳn người tri kỷ, người bạn chân thành năm xưa. Giờ đây, vầng trăng đi qua ngõ lạnh lùng và xa lạ như người dưng qua đường. Vầng trăng vẫn tròn đầy, vẫn thủy chung tình nghĩa, nhưng con người đã quên trăng, hờ hững, lạnh nhạt, dửng dưng đến vô tình. Vầng trăng giờ đây bống trở thành người xa lạ, chẳng còn ai nhớ, chẳng còn ai hay biết
\
Con người đối diện với vầng trăng trong một tình huống bất ngờ. Chính cái bất ngờ ấy đưa con người sổng thực với chính mình, sống thực với nguồn cội sự sống. Giọt nước mắt rưng rưng trên khóc mắt vừa là sự cảm động sau xa vừa là niềm tiếc hạn bẽ bàng, tận cùng của đau xót :Ngửa mặt lên nhìn mặt \n có cái gì rưng rưng \n như là đồng là bể \n như là sông là rừng
Trăng cứ tròn vành vạnh \n kể chi người vô tình \n ánh trăng im phăng phắc \n đủ cho ta giật mình.
\
“Ngửa mặt lên nhìn mặt” có nghĩa là nhìn lại mặt mình và thấy mình có lỗi, mình đã thành con người khác, con người đã quên đi những năm tháng gian lao mà tình nghĩa, quên đi nhưng mất mát, hi sinh,… Những giọt nước mắt cho thấy sự thức tỉnh và hối lỗi của nhà thơ., những giọt nước mắt trong sâu thẳm lòng người có sức lay động nhiều hơn những giọt nước mắt trên bờ miVà nhờ thơ đã “giật mình” dù trăng vẫn im phăng phắc. Người bạn tri kỷ ấy không nói, mà vẻ đẹp của người bạn ấy đã làm nhà thơ bừng tỉnh ngộ. Người ta có thể thấy qua “trăng” những gương mặt người tri âm xưa. Với người này, đó có thể là hình bóng của thời bé dại. Vói người khác, đó có thể là hình dáng của tháng nă êm đềm hạnh phúc đã qua. Riêng với nhà thơ, đó chính là gương mặt đồng đội trong những tháng năm đạn bom khốc liệt
Nhà thơ “giật mình” trước sự suy thoái về đạo đức, về lối sống của xã hội, trong đó có bản thân mình: có đèn điện, quên vầng trăng, có hòa bình, quên quá khứ chiến tranh. Vì vậy, lời tự thú chân tình của tác giả chính là lời nhắc nhở về thái độ, tình cảm đối với quá khứ gian lao, tình nghĩa và đối với thiên nhiên, đất nước bình dị thân thương
Bài đồng chí
Văn chương giống như một cây bút đa màu, nó vẽ lên bức tranh cuộc sống bằng những gam màu hiện thực. Người nghệ sĩ đã dùng cả trái tim của mình để “hút nhụy đời” tưới tắm cho những cánh đồng văn học. Ở cánh đồng ấy, có một khoảng trời dành riêng cho văn học cách mạng, văn học của hiện thực tàn khốc mà cũng đẹp đẽ vô cùng. Trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc vĩ đại, hình ảnh người lính mãi là hình ảnh cao quý và đẹp đẽ nhất. Hình ảnh ấy đã đi vào lòng người và văn chương với tư thế, tình cảm và phẩm chất cao đẹp. Một trong những tác phẩm ra đời sớm nhất, tiêu biểu và thành công nhất viết về tình cảm của những người lính Cụ Hồ là bài thơ Đồng chí của Chính Hữu. Bằng những rung động mới mẻ và sâu lắng cũng như sự trải nghiệm của người trong cuộc, qua bài thơ Đồng Chí, Chính Hữu đã diễn tả một cách sâu sắc tình đồng chí gắn bó thiêng liêng của những anh bộ đội thời kháng chiến.
Bài thơ ra đời năm 1948, khi Chính Hữu là chính trị viên đại đội thuộc Trung đoàn Thủ đô. Với nhịp điệu trầm lắng mà như ấm áp, tươi vui; ngôn ngữ bình dị đời thường dường như đã trở thành những vần thơ của niềm tin yêu, sự hi vọng, lòng cảm thong sâu sắc của một người chiến sĩ cách mạng làm thơ. Trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp gian lao, lẽ đương nhiên, hình ảnh những người lính, những anh bộ đội sẽ trở thành linh hồn của cuộc kháng chiến, trở thành niềm tin yêu và hy vọng của cả dân tộc.
Ngòi bút tài hoa của Chính Hữu cùng với những câu thơ tự do, giọng thủ thỉ tâm tình, ngôn ngữ giản dị, một cách tự nhiên Chính Hữu đã từ từ dẫn người đọc đến với cơ sở hình thành tình đồng chí:
“Quê hương anh nước mặn đồng chua \n Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”
Giọng điệu thủ thỉ tâm tình như lời kể chuyện, tâm sự của hai người đồng đội nhớ lại kỉ niệm về những ngày đầu tiên gặp gỡ. Họ đều là những người con của những vùng quê nghèo, là những người nông dân nơi “nước mặn đồng chua” hoặc ở chốn “đất cày lên sỏi đá”. Hình ảnh “quê hương anh” và “làng tôi” hiện lên với biết bao nỗi gian lao vất vả, dù cho nhà thơ không chú ý miêu tả. Nhưng chính điều đó lại làm cho hình ảnh vốn chỉ là danh từ chung chung kia trở nên cụ thể đến mức có thể nhìn thấy được, nhất là dưới con mắt của người dân làng quê Việt Nam.
Phải chăng chính nguồn gốc xuất thân của các anh đã làm nên bệ phóng cho tình đồng chí?
“Anh với tôi đôi người xa lạ \n Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”
Những câu thơ mộc mạc, tự nhiên, mặn mà như lời thăm hỏi. Họ hiểu nhau, thương nhau, chia sẻ với nhau bằng tình tương thân tương ái vốn có từ lâu giữa những người nông dân chân nấm tay bùn. Nhưng “tự phương trời” họ về đây không phải do cái nghèo đói xô đẩy, mà do họ có một lí tưởng chung, cùng một mục đích cao cả. Những người từ mọi phương trời tập hợp lại trong hàng ngủ quân đội cách mạng và chính nhờ cơ sở của sự đồng cảm giai cấp, cùng chung cảnh ngộ cho nên họ đã dễ dàng thân quen với nhau. Nhà thơ Hồng Nguyên trong bài thơ “Nhớ” của mình cũng thể hiện tình cảm này:
“Lũ chúng tôi bọn người tứ xứ \n Gặp nhau hòi chưa biết chữ \n Quen nhau từ buổi một hai \n Súng bắn chưa quen quân sự mươi bài \n Lòng vẫn cười vui kháng chiến”
Những người xa lạ gặp nhau thân quen nhau tạo nên tình đồng chí. trước hết phải nói tình đồng chí được nảy sinh từ sự cùng chung nhiệm vụ sát cánh bên nhau trong chiến đấu.
Có lẽ chung cuộc sống chiến đấu gian khổ bên chiến hào vì độc lập tự do của dân tộc, đã từ khi nào các anh trở thành tri kỉ của nhau:
“Súng bên súng, đầu sát bên đầu \n Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”
“Súng bên súng” là cách nói hàm súc, hình tượng: cùng chung lí tưởng chiến đấu; “anh với tôi” cùng ra trận đánh giặc để bảo vệ đất nước quê hương, vì độc lập, tự do và sự sống còn của dân tộc. “Đầu sát bên đầu” là hình ảnh diễn tả ý hợp tâm đầu của đôi bạn tâm giao. Câu thơ “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ” là câu thơ hay và cảm động, đầy ắp kỉ niệm một thời gian khổ. Chia ngọt sẻ bùi mới “thành đôi tri kỉ”. “Đôi tri ki” là đôi bạn rất thân, biết bạn như biết mình. Bạn chiến đấu thành tri kỉ, về sau trở thành đồng chí! Câu thơ 7, 8 từ đột ngột rút ngắn lại hai từ “đồng chí” làm diễn tả niềm tự hào xúc động ngân nga mãi trong lòng. Xúc động khi nghĩ về một tình bạn đẹp. Tự hào về mối tình đồng chí cao cả thiêng liêng, cùng chung lí tưởng chiến đấu của những người binh nhì vốn là những trai cày giàu lòng yêu nước ra trận đánh giặc.
Điều gì khiến cho những chàng trai quanh năm chỉ quen tay cày tay cuốc ấy đã hăng say lên đường cầm súng chiến đấu? Điều gì khiến những chiếc xe không kính ngày đêm lao đi trong mưa bom bão đạn? Điều gì khiến những cô gái vốn yếu mềm có thể
hiên ngang chạm vào cái chết vô hình từ những quả bom? Đó chính là lòng chung thủy với quê hương, với mảnh ruộng nhà mình, với vợ con của mình:
“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày \n Gian nhà không mặc kệ gió lung lay”
Nhà phê bình Nguyễn Đức Quyền đã nhận xét: Ở ngoài mặt trận mà biết gió lay từng gốc cột ngôi nhà mình ở thì thật không còn từ ngữ nào để diễn tả hết tình cảm thiết tha của họ đối với gia đình mình. Thế đó, ai mà không mong muốn được sống yên vui, hạnh phúc trong mái ấm gia đình? Nhưng vì nghĩa lớn, họ ra đi không tiếc đời mình, bỏ lại sau lưng tất cả những gì thân yêu nhất. Cũng như vậy, ở ngoài mặt trận mà biết “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” chứng tỏ họ đang nhớ quê hương, nhớ người mình thương biết nhường nào! Mối giao cảm đậm đà sâu sắc ấy đã tiếp thêm sức mạnh cho người lính trên những chặng đường chiến đấu.
Không chỉ thấu hiểu, cảm thông, các anh còn sẻ chia những thiếu thốn, gian lao và niềm vui bên chiến hào chiến đấu:
“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh \n Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi \n Áo anh rách vai \n Quần tôi có vài mảnh vá \n Miệng cười buốt giá \n Chân không giày \n Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”
Đoạn thơ với bút pháp hiện thực, hình ảnh sóng đôi đối xứng “anh – tôi”, “áo anh – quần tôi” tạo được sự gắn kết của những người đồng chí luôn kề vai sát cánh, đồng cam cộng khổ bên nhau. Trong thiếu thốn, các anh đã cùng chia sẻ ốm đau bệnh tật, cũng trải qua những cơn sốt rét rừng ghê gớm, cùng chia sẻ những thiếu thốn về vật chất, bằng niềm lạc quan “miệng cười buốt giá”, bằng tình yêu thương gắn bó “thương nhau tay nắm lấy bàn tay”. Khó khăn là vậy, khắc nghiệt là thế, hiện thực của chiến tranh với những cơn sốt rét rừng đã được rất nhiều nhà thơ miêu tả lại trong những trang viết của mình:
“Nơi thuốc súng trộn vào áo trận \n Cơn sốt rừng đi dọc tuổi thanh xuân” \n (Nguyễn Đức Mậu)
Ấy vậy mà các chiến sĩ của ta vẫn lạc quan, vẫn tin tưởng, không chùn bước trước bất cứ điều gì. Hình ảnh “miệng cười buốt giá” gợi nụ cười lạc quan bừng lên trong giá lạnh xua tan đi sự khắc nghiệt của chiến trường. Các anh nắm tay nhau để chuyền cho nhau hơi ấm, để động viên nhau vượt qua khó khăn gian khổ. Thật hiếm khi thấy cái bắt tay nào nồng hậu đến vậy!
Chính Hữu bằng những nét vẻ giản dị mộc mạc đã vẽ lên bức tranh tuyệt đẹp ngay giữa một hoàn cảnh đầy khắc nghiệt: bức tranh người lính đứng gác giữa núi rừng biên giới trong đêm khuya:
“Đêm nay rừng hoang sương muốI \n Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới \n Đầu súng trăng treo.”
Ba câu thơ mà nói được rất nhiều điều. Đó là hoàn cảnh chuẩn bị chiến đấu – đặc điểm không gian và thời gian: đêm nay– rừng hoang – sương muối. Đó là tình đồng chí keo sơn trong gian khổ, là tinh thần sẵn sàng vào trận: “đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”. Đó là tâm hồn đầy chất thơ của anh Vệ quốc quân và ý nghĩa cao đẹp của cuộc chiến đấu của chúng ta: “đầu súng trăng treo”. Đêm nay cũng như bao đêm khác, các anh phục kích chờ giặc, chuẩn bị cho trận đánh giành thắng lợi cuối cùng trong chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947, một đêm đã đi vào lịch sử khiến người lính không thể nào quên. Các anh phục kích chủ động chờ giặc trong hoàn cảnh đầy khắc nghiệt: “rừng hoang sương muối” “Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”. Các anh chờ giặc tới là chờ giây phút hồi hộp căng thẳng khi ranh giới của sự sống cái chết rất mong manh. Từ “chờ” đã thể hiện được tư thế chủ động của người lính trong đêm phục kích cũng là tư thế chủ động của toàn dân ta sau chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947.
Đọc thơ Chính Hữu ta như cảm thấy hơi ấm đang toả ra khắp cơ thể, khắp không gian. Hơi ấm ấy phải chăng được bắt nguồn từ cảm xúc chân thành, mộc mạc, giản dị trong lời thơ Chính Hữu. Câu thơ cuối tuy đã khép lại tác phẩm nhưng với em nó mãi là dư âm không bao giờ cạn:
“Đầu súng trăng treo”
Câu thơ vừa thực vừa ảo cho ta nhiều cảm xúc mới mẻ. Khoảng cách giữa bầu trời và mặt đất, giữa con người và thiên nhiên đã được xích lại gần gũi hơn bởi một từ treo. Đó là sự kết hợp giữa bút pháp tả thực và lãng mạn vừa xa vừa gần. Phải chăng câu thơ là ước muốn, là hi vọng của Chính Hữu – người lính Cụ Hồ về một cuộc sống hoà bình, tươi đẹp? Sau đêm nay, sau giờ phút căng thẳng, lạnh buốt này sẽ là một sớm mai ấm áp với ánh bình minh sáng ngời Người chiến sĩ, với nhiệm vụ đã thành người thi sĩ với bao cảm hứng dạt dào. Hình ảnh cây súng trong bài thơ Đồng chí khiến ta chợt nhớ đến sông Mã, Tây Tiến trong câu thơ của Quang Dũng:
“Heo hút cồn mây, súng ngửi trời”
Đáng trọng và đáng quí làm sao khi trong thời máu lửa oai hùng đó vẫn có những vần thơ thật hay, thật đẹp và thú vị đến thế!
Từ sự giản dị của ngôn từ, sự sáng tạo của hình ảnh chi tiết, sự linh hoạt của nhịp điệu câu thơ, bài thơ đã khắc họa, tôn vinh vẻ đẹp phẩm giá đáng quý của anh bộ đội cụ Hồ, của tình đồng chí đồng đội bền chặt keo sơn, hòa nhập với cảm hứng lãng mạn cách mạng của văn học thời chống Pháp. Nhà văn Nga Ê ren-bua đã viết: Tình yêu nước bắt đầu từ lòng yêu những gì bình thường nhất. Yêu cái cây trồng trước ngõ, yêu lối nhỏ đổ ra bờ sông, yêu con sống đổ về biển cả… Vâng, tình yêu của người lính cụ Hồ cũng bắt nguồn từ những gì mộc mạc, chân chất, gần gũi nhất. Yêu ngôi nhà, yêu mảnh vườn, gốc đa, giếng nước, yêu con người… Đó chính là tình yêu Tổ quốc!
Lịch sử đã sang trang mới nhưng có lẽ hình ảnh những người nông dân mặc áo lính vẫn sống mãi trong lòng thế hệ mai sau. Vẻ đẹp của các anh, tinh thần của các anh sẽ chẳng thế bị bụi thời gian cuốn đi mất:
“Nếu được làm hạt giống để mùa sau \n Nếu lịch sử chọn ta làm điểm tựa \n Vui gì hơn làm người lính đi đầu \n Trong đêm tối, tim ta làm ngọn lửa”