Hệ Thống Giải Đáp Học Phần Kinh Tế Chính Trị Mác - Lênin
CHƯƠNG 1: ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CHỨC NĂNG CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN
Sự hình thành và phát triển:
Kinh tế chính trị Mác - Lênin bắt đầu phát triển mạnh mẽ từ giữa thế kỷ XIX.
C. Mác và Ph. Ăngghen là những người đầu tiên đặt nền móng vững chắc cho Kinh tế chính trị vô sản.
V.I. Lênin là người có công lao to lớn trong việc kế thừa và phát triển học thuyết của Mác, đặc biệt là tập trung phân tích chủ nghĩa tư bản độc quyền và xây dựng cơ sở lý luận cho chủ nghĩa xã hội (CNXH) hiện thực.
Tính khoa học và cách mạng:
Sự khác biệt cơ bản giữa kinh tế chính trị Mác - Lênin và kinh tế chính trị tư sản nằm ở sự phản ánh lợi ích giai cấp. Kinh tế chính trị Mác - Lênin đứng trên lập trường của giai cấp công nhân.
Đây là sự kế thừa và phát triển có tính cách mạng đối với các tư tưởng kinh tế trước đó vì nó sử dụng phương pháp duy vật biện chứng để làm rõ bản chất của các quan hệ kinh tế và đấu tranh giai cấp.
Đối tượng và mục đích nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Là các quan hệ xã hội của sản xuất và trao đổi, đặt trong mối liên hệ biện chứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng với một phương thức sản xuất nhất định.
Mục đích nghiên cứu: Phát hiện ra các quy luật kinh tế chi phối các quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất và trao đổi hàng hóa.
Hệ thống phương pháp nghiên cứu:
Cơ sở phương pháp luận: Sử dụng phép biện chứng duy vật và chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích các hiện tượng kinh tế - xã hội.
Phương pháp trừu tượng hóa khoa học: Đây là phương pháp đặc thù nhằm gạt bỏ những hiện tượng ngẫu nhiên, bề ngoài để tìm ra bản chất và quy luật vận động của các hiện tượng kinh tế (ví dụ: khi nghiên cứu giá trị hàng hóa, Mác đã dùng phương pháp này để làm rõ bản chất dựa trên lao động xã hội cần thiết).
Phương pháp logic - lịch sử: Nhằm trình bày sự phát triển của các hiện tượng kinh tế theo trật tự từ đơn giản đến phức tạp, phản ánh đúng tiến trình lịch sử thực tế của xã hội.
CHƯƠNG 2: HÀNG HÓA, THỊ TRƯỜNG VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC CHỦ THỂ THAM GIA THỊ TRƯỜNG
Sản xuất hàng hóa:
Định nghĩa: Là kiểu tổ chức hoạt động kinh tế mà ở đó sản phẩm được sản xuất ra không nhằm mục đích tự tiêu dùng cho người sản xuất mà để trao đổi, mua bán trên thị trường.
Điều kiện ra đời:
Phân công lao động xã hội (sự phân chia lao động thành các ngành, nghề chuyên môn hóa khác nhau).
Sự tách biệt về mặt kinh tế của các chủ thể sản xuất.
Hình thức kinh tế đầu tiên: Trước sản xuất hàng hóa là kinh tế tự nhiên (người sản xuất tự tiêu dùng sản phẩm của mình).
Ưu thế: Thúc đẩy chuyên môn hóa, tăng năng suất lao động và mở rộng giao lưu kinh tế.
Mặt trái: Gây phân hóa giàu nghèo, tiềm ẩn nguy cơ khủng hoảng kinh tế và ô nhiễm môi trường.
Hàng hóa và hai thuộc tính của hàng hóa:
Hàng hóa: Là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu của con người thông qua trao đổi, mua bán. Hàng hóa hữu hình có đặc điểm là cất trữ được, việc sản xuất và tiêu dùng tách rời nhau.
Giá trị sử dụng: Công dụng của vật phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người. Đây là nội dung vật chất của hàng hóa.
Giá trị hàng hóa: Là lao động xã hội của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa. Nó phản ánh quan hệ trao đổi giữa những người sản xuất. Nếu sản phẩm không có giá trị sử dụng với người khác, nó không được coi là hàng hóa.
Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa:
Lao động cụ thể: Lao động dưới hình thức một nghề nghiệp chuyên môn nhất định, tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa.
Lao động trừu tượng: Sự tiêu hao sức lao động nói chung (thần kinh, cơ bắp) của người sản xuất, tạo ra giá trị của hàng hóa.
Lượng giá trị hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng:
Lượng giá trị: Được xác định bởi thời gian lao động xã hội cần thiết (thời gian trung bình để sản xuất một hàng hóa trong điều kiện bình thường của xã hội).
Năng suất lao động: Có quan hệ tỷ lệ nghịch với lượng giá trị một đơn vị hàng hóa. Khi năng suất lao động tăng, thời gian lao động xã hội cần thiết giảm, dẫn đến lượng giá trị hàng hóa giảm xuống.
Cường độ lao động: Khi tăng cường độ lao động, số lượng sản phẩm và tổng giá trị tạo ra tăng nhưng giá trị của một đơn vị hàng hóa không đổi.
Lao động giản đơn và lao động phức tạp: Lao động phức tạp là lao động có trình độ kỹ thuật, tay nghề cao, được coi là lao động giản đơn được nhân lên.
Tiền tệ:
Bản chất: Là hàng hóa đặc biệt, đóng vai trò là vật ngang giá chung cho thế giới hàng hóa, phản ánh lao động xã hội.
Năm chức năng của tiền tệ: Thước đo giá trị, phương tiện lưu thông (môi giới trao đổi), phương tiện cất trữ (giữ sức mua khi rút khỏi lưu thông), phương tiện thanh toán (chi trả nợ, nộp thuế, mua chịu), và tiền tệ thế giới.
Thị trường và các quy luật kinh tế:
Thị trường: Tập hợp các quan hệ mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa các chủ thể kinh tế thông qua giá cả.
Cơ chế thị trường: Hệ thống các quan hệ tự điều chỉnh tuân theo yêu cầu của các quy luật kinh tế.
Kinh tế thị trường: Giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa.
Quy luật giá trị: Yêu cầu việc sản xuất và trao đổi phải dựa trên hao phí lao động xã hội cần thiết. Nhà sản xuất có lợi thế khi hao phí lao động cá biệt nhỏ hơn hoặc bằng hao phí lao động xã hội.
Quy luật cung - cầu: Phản ánh mối quan hệ giữa lượng cung, lượng cầu và giá cả hàng hóa. Khi cầu lớn hơn cung, giá cả tăng và ngược lại.
CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Công thức chung của tư bản:
Công thức:
Trong đó ( là giá trị thặng dư). Mục đích của tư bản là sự tăng thêm về giá trị (giá trị thặng dư), khác với lưu thông hàng hóa giản đơn () có mục đích là giá trị sử dụng.
Hàng hóa sức lao động:
Điều kiện tiêu dùng: Khi tiêu dùng hàng hóa sức lao động, nó tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó (đây là đặc điểm đặc biệt nhất).
Giá trị sức lao động: Được quyết định bởi chi phí đào tạo và chi phí sinh hoạt để tái sản xuất sức lao động.
Cấu trúc tư bản:
Tư bản bất biến (): Bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái tư liệu sản xuất (máy móc, nguyên liệu), giá trị của nó được chuyển nguyên vẹn vào sản phẩm và không thay đổi về lượng trong quá trình sản xuất.
Tư bản khả biến (): Bộ phận tư bản dùng để mua sức lao động, nó tăng thêm về lượng trong quá trình sản xuất thông qua việc tạo ra giá trị thặng dư.
Tư bản cố định: Bộ phận tư bản sản xuất (máy móc, nhà xưởng) chuyển giá trị từng phần vào sản phẩm sau nhiều chu kỳ.
Tư bản lưu động: Bộ phận tư bản (nguyên liệu, nhiên liệu, tiền lương) chuyển toàn bộ giá trị vào sản phẩm sau mỗi chu kỳ sản xuất.
Giá trị thặng dư ():
Định nghĩa: Là phần giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân tạo ra nhưng bị nhà tư bản chiếm đoạt (không được trả công).
Tỷ suất giá trị thặng dư (): Phản ánh trình độ bóc lột của nhà tư bản đối với lao động làm thuê. \n m' = \frac{m}{v} \times 100\%\n
Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư:
Giá trị thặng dư tuyệt đối: Kéo dài ngày lao động trong khi thời gian lao động tất yếu không đổi.
Giá trị thặng dư tương đối: Rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách tăng năng suất lao động xã hội.
Giá trị thặng dư siêu ngạch: Thu được do áp dụng kỹ thuật tiên tiến làm năng suất lao động cá biệt cao hơn năng suất lao động xã hội.
Tiền công:
Bản chất là giá cả của hàng hóa sức lao động.
Tiền công danh nghĩa: Lượng tiền người lao động nhận được trực tiếp.
Tiền công thực tế: Lượng hàng hóa và dịch vụ mà người lao động mua được bằng tiền công danh nghĩa (phụ thuộc vào giá cả và lạm phát).
Tích lũy tư bản:
Bản chất là biến một phần giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm để mở rộng sản xuất. Tích lũy dẫn đến tăng cấu tạo hữu cơ của tư bản (), dễ gây ra thất nghiệp (quân đội công nghiệp dự bị) do máy móc thay thế lao động sống.
Lợi nhuận ():
Lợi nhuận là hình thức biểu hiện bề ngoài của giá trị thặng dư. Khi chi phí sản xuất được ký hiệu là , thì giá trị hàng hóa được tính là ; thực tế biểu hiện là .
Tỷ suất lợi nhuận (): \n p' = \frac{m}{c+v} \times 100\%\n
Lợi nhuận thương nghiệp: Là một phần giá trị thặng dư được tạo ra trong sản xuất nhưng nhà tư bản công nghiệp nhường lại cho nhà tư bản thương nghiệp để thực hiện khâu lưu thông.
Lợi tức (): Một phần lợi nhuận bình quân mà nhà tư bản đi vay trả cho nhà tư bản cho vay để được sử dụng tư bản tiền tệ nhàn rỗi.
CHƯƠNG 4: CẠNH TRANH VÀ ĐỘC QUYỀN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Sự hình thành độc quyền:
Chủ nghĩa tư bản (CNTB) phát triển qua hai giai đoạn: CNTB tự do cạnh tranh và CNTB độc quyền (xuất hiện cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX).
Nguyên nhân ra đời độc quyền: Sự phát triển của lực lượng sản xuất, tích tụ và tập trung sản xuất, cạnh tranh và tác động của các cuộc khủng hoảng kinh tế.
Tổ chức độc quyền: Là liên minh các doanh nghiệp lớn nhằm thao túng thị trường, giá cả để thu lợi nhuận độc quyền cao.
Đặc điểm kinh tế của độc quyền:
Tập trung sản xuất và các tổ chức độc quyền.
Tư bản tài chính và hệ thống đầu sỏ tài chính (sự kết hợp giữa tư bản ngân hàng và tư bản công nghiệp).
Xuất khẩu tư bản (mang tư bản ra nước ngoài đầu tư nhằm chiếm đoạt ).
Sự phân chia thế giới về kinh tế giữa các tổ chức độc quyền.
Sự phân chia thế giới về lãnh thổ giữa các cường quốc tư bản.
Cạnh tranh trong điều kiện độc quyền:
Độc quyền không tiêu diệt cạnh tranh mà làm cho cạnh tranh trở nên gay gắt hơn, đặc biệt là cạnh tranh không bình đẳng ("cá lớn nuốt cá bé"). Các doanh nghiệp độc quyền thường cạnh tranh phi giá cả (thương hiệu, công nghệ, quảng cáo).
Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước:
Sự kết hợp sức mạnh của các tổ chức độc quyền tư nhân với sức mạnh kinh tế của nhà nước tư sản nhằm bảo vệ lợi ích của các tổ chức độc quyền và cứu nguy cho CNTB.
Nhà nước điều tiết nền kinh tế thông qua hệ thống tín dụng, tiền tệ, ngân sách và thuế.
CHƯƠNG 5: KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN VÀ CÁC QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ Ở VIỆT NAM
Khái niệm và mục tiêu:
Là mô hình kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN), do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; giải phóng sức sản xuất và xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH.
Đặc trưng:
Về sở hữu: Tồn tại nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tập thể không ngừng được củng cố, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng.
Về quản lý: Nhà nước quản lý bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch trên cơ sở tuân thủ các quy luật khách quan của thị trường.
Về phân phối: Thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế và mức đóng góp vốn; đồng thời thực hiện phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội.
Tăng trưởng kinh tế gắn với công bằng xã hội:
Đây là đặc trưng bản chất của định hướng XHCN. Việt Nam không chấp nhận tăng trưởng bằng mọi giá mà phải đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển.
CHƯƠNG 6: CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
Cách mạng công nghiệp (CMCN):
Lần 1: Từ giữa thế kỷ XVIII đến giữa XIX; đặc trưng là máy hơi nước và cơ khí hóa (bắt đầu từ ngành dệt).
Lần 2: Cuối thế kỷ XIX đến đầu XX; đặc trưng là năng lượng điện và dây chuyền sản xuất hàng loạt.
Lần 3: Cuối thập niên 60 của thế kỷ XX; đặc trưng là công nghệ thông tin và tự động hóa.
Lần 4 (CMCN 4.0): Bắt đầu từ khoảng năm 2011; đặc trưng là sự kết hợp giữa thế giới thực và ảo (AI, Big Data, IoT, in 3D).
Công nghiệp hóa (CNH), Hiện đại hóa (HĐH):
CNH: Quá trình chuyển đổi từ lao động thủ công sang lao động máy móc.
HĐH: Quá trình ứng dụng những thành tựu khoa học hiện đại vào sản xuất và quản lý.
Tính tất yếu: CNH, HĐH là điều kiện để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho CNXH, giúp Việt Nam thoát khỏi tình trạng nông nghiệp lạc hậu và tránh bị tụt hậu.
Nội dung cốt lõi của CNH, HĐH tại Việt Nam:
Đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo (đặc biệt là thành tựu của CMCN 4.0).
Chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế theo hướng hiện đại: Tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp.
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Thực hiện chuyển đổi số và phát triển hạ tầng kỹ thuật thông tin.
Bài học kinh nghiệm từ thế giới:
Hàn Quốc và các nước công nghiệp mới (NICs) thực hiện thành công CNH, HĐH trung bình mất khoảng năm.
Việt Nam cần kết hợp giữa nguồn lực nội sinh (giáo dục, khoa học công nghệ) với việc hội nhập kinh tế quốc tế và tận dụng chuyển giao công nghệ từ các nước tiên tiến.