Buổi 2
VĂN HỌC TIÊN TẦN
Tiên Tần tức là trước thời Tần, chỉ lịch sử trước khi nhà Tần thống nhất vào năm 221 TCN, bao gồm ba hình thái xã hội: xã hội nguyên thủy, xã hội nô lệ và xã hội phong kiến sớm của Trung Quốc. Thời kỳ này đã trải qua ba giai đoạn lịch sử: từ thiên hạ thống nhất đến giai đoạn phân phong chư hầu tranh giành quyền lực, rồi lại đến thống nhất tập quyền trung ương. Tác phẩm văn học cùng thời phần lớn đều thể hiện đặc trưng thời đại cơ bản của dân tộc Hoa Hạ là từ phân liệt tìm kiếm sự thống nhất. Văn học Tiên Tần là giai đoạn sớm nhất trong sự phát sinh và phát triển của văn học cổ đại Trung Quốc. Trong giai đoạn này đã sản sinh rất nhiều tác phẩm xuất sắc, có thần thoại cổ đại và ca dao cổ đại làm tiền đề cho văn học cổ đại nước ta; có Kinh Thi đánh dấu khởi điểm rực rỡ của văn học nước ta; có văn xuôi lịch sử làm mầm mống cho văn học thể truyện, tiểu thuyết và kịch đời sau; có văn xuôi Chư tử thể hiện cục diện Bách gia tranh鳴 thời Chiến quốc; có ngụ ngôn Tiên Tần là thủy tổ của văn học ngụ ngôn nước ta; có kiệt tác chủ nghĩa lãng mạn tỏa sáng muôn đời như Sở Từ, v.v. Văn học Tiên Tần phong phú đa dạng, rực rỡ muôn màu đã đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển văn học hơn hai nghìn năm của nước ta.
Trong lịch sử văn học, văn học Tiên Tần là giai đoạn văn học nước ta từ trạng thái mầm mống đến phát triển bước đầu. Thời kỳ này vẫn chưa hình thành quan niệm văn học độc lập, chưa có ý thức phân biệt giữa văn học và phi văn học, cũng không có người chuyên làm sáng tác văn học. Trong các tác phẩm chữ viết còn lưu lại của thời Tiên Tần, chỉ có một bộ phận thơ ca là có tính chất văn học tương đối rõ ràng. Trong văn kiện Tiên Tần, các tác phẩm lịch sử cấu thành một nhánh quan trọng. Điều này là do ở hai thời Hạ - Thương, văn hóa tôn giáo nguyên thủy chiếm địa vị chủ đạo, vu hịch (thầy cúng/pháp sư) có địa vị vô cùng quan trọng. Những câu vần do họ sáng tạo khi bói toán, tế lễ (như bói giáp cốt) và ca dao chú ngữ là những hình thức văn học cổ xưa nhất hiện còn. Sử quan là một lực lượng gánh vác chủ yếu khác của sự truyền thừa văn hóa. Ban đầu Vu và Sử là một, chức năng ban đầu của họ cũng là các công việc tôn giáo, tức là thầy cúng không chỉ chủ trì bói toán, thông linh với thần linh, mà còn chịu trách nhiệm bảo tồn văn kiện, sách vở chính thức. Lấy bói giáp cốt làm ví dụ, thầy cúng vừa tiến hành bói toán, lại vừa phụ trách lưu trữ, ý nghĩa của nó tương đương với Lưu trữ cục Quốc gia ngày nay. Sau này Vu và Sử phân chia, trung tâm chính là văn hóa Vu và văn hóa Sử. Đến thời nhà Chu, tác dụng của Vu dần thoái hóa, xuất hiện các Sử quan chuyên nắm giữ văn kiện sách vở và ghi chép lời nói của người trị quốc cùng các sự kiện trọng đại của quốc gia. Hán Thư - Nghệ Văn Chí chép: Thời cổ "vua làm gì cũng phải ghi chép... Sử bên trái ghi lời nói, Sử bên phải ghi sự việc; việc thành sách Xuân Thu, lời thành sách Thượng Thư". Thượng Thư hiện còn đại thể là tập hợp các văn kiện lịch sử do Sử quan nhà Chu lưu giữ, còn Xuân Thu là chính sử của nước Lỗ. Thời Chiến Quốc, các nước chư hầu đều có Sử quan, cũng đều có sách sử gọi chung là Xuân Thu, tuy nhiên chỉ có Xuân Thu của nước Lỗ còn lưu giữ đến nay. Về sau, cùng với việc văn hóa dịch chuyển xuống xã hội, tư liệu chính thức cũng truyền ra ngoài, thế là xuất hiện sách sử do lớp "Sĩ" biên soạn, tức những tác phẩm như Tả Truyện, Quốc Ngữ, Chiến Quốc Sách, đây có thể coi là sự biến chuyển của văn hóa Sử quan. Văn xuôi lịch sử được hình thành và dần trưởng thành trên cơ sở truyền thống văn hóa Sử quan. Xét về mặt ý nghĩa lịch sử văn học, các thẻ bói giáp cốt bằng chữ viết sớm nhất của Trung Quốc cũng có thể coi là phôi thai của văn xuôi Trung Quốc. Các thiên như Bàn Canh thời Ân Thương, Mộc Thệ, Đại Cáo, Vô Dật thời Tây Chu trong Thượng Thư, tuy là ghi chép lời nói của người trị quốc, nhưng không hoàn toàn là ghi chép trực tiếp khẩu ngữ, mà đã qua xử lý chữ viết của Sử quan, có thể xem là những "văn chương" sớm nhất. Từ khẩu ngữ đến các ghi chép bằng chữ viết dài kỳ chắc chắn đã thúc đẩy năng lực biểu đạt chữ viết. Các tác phẩm về sau như Tả Truyện, Quốc Ngữ, Chiến Quốc Sách, v.v., về mặt biểu đạt ngôn ngữ ngày càng trưởng thành. Đặc biệt là các tác phẩm mang tính tự sự, sự sắp xếp tình tiết, miêu tả nhân vật, tô điểm không khí, thậm chí là sự hư cấu ở một mức độ nào đó mà họ chứa đựng thì đặc biệt Chiến Quốc Sách là rõ nét nhất. Những thủ pháp và yếu tố này đều mang tính văn học nổi bật.
Từ giữa thời Xuân Thu bắt đầu xuất hiện, đến thời Chiến Quốc thể hiện sự phồn vinh của văn xuôi Chư tử, là các tác phẩm tư tưởng thuộc về thảo luận các vấn đề chính trị, triết học, đạo đức. Văn chương của Chư tử đa phần được phát triển và hình thành trong bầu không khí tranh luận Bách gia tranh鸣 (trăm nhà đua tiếng). Chư tử Tiên Tần có những đặc điểm rõ nét riêng. Về tư tưởng, họ đều kiên trì tư duy độc lập, mỗi người giữ một ý kiến, phát biểu không kiêng nể. Như Khổng Tử đề xướng Nhân Nghĩa Lễ Nhạc, M墨 Tử chủ trương Kiêm Ái Thượng Hiền, Trang Tử chủ trương Tự Nhiên Vô Vi, Hàn Phi Tử đại xướng Pháp Luật Thế Lực. Tương ứng với đó, về phong cách văn chương họ cũng mang cá tính và phong cách riêng. Như Luận Ngữ đơn giản bình dị, hàm súc sâu xa; M墨 Tử chất phác rõ ràng, giỏi dùng ví dụ; Mạnh Tử khí势 hoành đại, từ锋 sắc bén; Trang Tử mênh mông phóng khoáng, văn tư kỳ幻; Tuân Tử đày đặn tỉ mỉ, ví dụ phong phú; Hàn Phi Tử nghiêm khắc sắc bén, luận biện thấu đáo. Về ngôn ngữ, họ đều giỏi dùng Tỷ H兴, lấy ý sâu xa, như Trang Tử "ngụ ngôn mười phần có chín", dùng vật liên xâu, lấy ý sâu rộng, là đứng đầu trong Chư tử. Về sự phát triển thể văn, văn xuôi Chư tử Tiên Tần trước tiên đã xác lập thể chế của văn luận thuyết. Từ dạng ngữ lục đến có quan điểm vô luận chứng, đến luận điểm rõ ràng, luận cứ đầy đủ, lô-gích chặt chẽ, cấu trúc hoàn chỉnh của văn luận thuyết chuyên đề, đã thể hiện diện mạo đại thể về sự phát triển văn luận thuyết nước ta. Ngoài ra, việc văn xuôi Chư tử kể lại một số câu chuyện cũng cung cấp dưỡng chất cho văn học tự sự đời sau. Nếu nói các tác phẩm lịch sử chủ yếu phát triển năng lực tự sự của chữ viết, thì văn xuôi Chư tử đã nâng cao đáng kể năng lực sử dụng chữ viết của con người để diễn đạt tư tưởng tình cảm của bản thân, điều này có ý nghĩa trọng đại đối với các thể văn bao gồm cả văn xuôi văn học đời sau.
Ngoài văn xuôi, thơ ca ở thời kỳ sau của Chiến Quốc cũng đạt được sự phát triển trọng đại. Hai nguồn gốc lớn của thơ ca cổ đại Trung Quốc là Kinh Thi và Sở Từ. Tương truyền, thời nhà Chu có quan Thái Thi (thu thập thơ), mùa xuân hàng năm, tay cầm mõ gỗ đi vào dân gian thu thập ca dao dân gian, biên tập lại những tác phẩm có thể phản ánh niềm vui sự khổ của nhân dân rồi giao cho Thái Sư phổ nhạc, hát cho Chu Thiên Tử nghe, làm tham khảo cho việc thi hành chính sách. Những tác phẩm dân gian không ghi tên tuổi tác giả này, cùng với tác phẩm của các văn nhân quý tộc thời nhà Chu, đã cấu thành nên Kinh Thi ngày nay. Còn trên mảnh đất phương Nam thì phát sinh Sở Từ với chủ thể là sáng tác của Khuất Nguyên, đưa văn học Tiên Tần lên đỉnh cao mới.
Văn học Tiên Tần chủ yếu phân thành các loại: Ca dao thần thoại, Kinh Thi, Văn xuôi lịch sử, Văn xuôi Chư tử và Sở Từ.
Một, Ca dao thần thoại
Truyền thuyết ca dao và thần thoại trước khi có chữ viết xuất hiện, nhân vật chính của thần thoại thường là thần linh tự nhiên hoặc nhân vật anh hùng được thần hóa, họ có sức mạnh và thần thông phi thường, được mọi người kính trọng và thờ phụng.
Hai, 《Kinh Thi》
Kinh Thi là khởi đầu của thơ ca cổ đại Trung Quốc, là tập thơ sớm nhất. Nó thu thập 305 bài thơ cổ đại từ thế kỷ 11 TCN đến thế kỷ 6 TCN, ngoài ra còn có 6 bài có tiêu đề nhưng không có nội dung, gọi là Sênh thơ lục thiên (Nam Đai, Bạch Hoa, Hoa Thấu, Do Canh, Sùng Khâu, Do Nghi), phản ánh diện mạo xã hội trong khoảng 500 năm từ đầu thời Tây Chu đến giữa thời Xuân Thu. Kinh Thi lấy câu bốn chữ làm cú pháp cơ bản. Đồng thời trong cú pháp cơ bản bốn chữ, lại tham差 biến hóa, dài ngắn tự do, tương đối linh hoạt, nhịp điệu rõ ràng, âm điệu hòa hợp, có vẻ đẹp âm nhạc tự nhiên. Mô hình và quy luật gieo vần cơ bản của nó, trên thực tế đã trở thành kim chỉ nam cho âm vần thơ ca đời sau. Kinh Thi đã mở ra truyền thống bộc lộ tình cảm —— truyền thống Tỷ H兴, cấu thành thủ pháp cơ bản cho biểu hiện văn học đời sau, dựng xây tinh thần "Phong Nhã" chú trọng thực tế.
Ba, Văn xuôi lịch sử
Văn xuôi lịch sử Tiên Tần có Xuân Thu, Tả Truyện, Chiến Quốc Sách, Quốc Ngữ, v.v., là thể loại văn học dần sinh ra và trưởng thành trên cơ sở truyền thống văn hóa Sử quan. Thượng Thư là tập hợp văn kiện lịch sử sớm nhất của nước ta, có ý nghĩa đặt nền móng trên lịch sử văn xuôi cổ đại Trung Quốc. Xuân Thu do Khổng Tử biên soạn là sách lịch sử biên niên theo thời đại đầu tiên của nước ta, là tổ tiên của sách sử biên niên, thể tài và "bút pháp" của nó đều tạo ra ảnh hưởng kinh điển đối với văn xuôi đời sau. Tả Truyện là sách sử biên niên chép sự việc đầy đủ đầu tiên của nước ta, cũng là tác phẩm nổi bật nhất về tính tư tưởng và tính nghệ thuật trong văn xuôi lịch sử Tiên Tần. Quốc Ngữ là sách sử quốc biệt sớm nhất của nước ta, do tư liệu lịch sử các nước tập hợp thành. Chiến Quốc Sách cũng là một cuốn sách sử quốc biệt, chủ yếu ghi chép lời nói và hành động của các mưu thần mưu sĩ thời Chiến Quốc.
Bốn, Văn xuôi Chư tử
Văn xuôi Chư tử được hình thành và phồn vinh trong bối cảnh tinh thần lý tính Tiên Tần thức tỉnh và bầu không khí học thuật Bách gia tranh鸣. Cuối thời Xuân Thu, vương quyền suy yếu, chư hầu nổi dậy, thiên hạ tranh chấp. Tương ứng với đó, quan lại mất chức, lễ nhạc tan rã, tầng lớp "Sĩ" trỗi dậy mạnh mẽ, tư thục phát triển, các tác phẩm tư nhân nối tiếp nhau xuất hiện. Đến thời Chiến Quốc, trăm nhà đua tiếng, Chư tử bàn luận, viết sách lập luận, trở thành phong trào. Theo Hán Thư - Nghệ Văn Chí chép, Chư tử chủ yếu lúc bấy giờ có mười nhà: Nho, Đạo, Âm Dương, Pháp, Danh, M墨, Tùng Hoành, Nông, Tạp, Tiểu Thuyết. Chư tử Tiên Tần chỉ những tác phẩm mang tính triết lý của các nhà Chư tử trong thời kỳ này thuật lại quan điểm và chủ trương khác nhau của mình đối với tự nhiên và xã hội. Văn xuôi Chư tử là bài viết của các học phái như Nho, M墨, Đạo, Pháp, v.v., trong đó các sách như Luận Ngữ, M墨 Tử, Mạnh Tử, v.v., là ghi chép của học trò đối với lời nói hành động của thầy mình như Khổng Tử, M墨 Địch, Mạnh Kha; còn các sách như Trang Tử, Tuân Tử, Hàn Phi Tử, v.v., là tác phẩm của chính bản thân họ.
Năm, Sở Từ
Sở Từ xuất hiện vào thời Chiến Quốc có ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử văn học Trung Quốc. "Sở Từ" chỉ thể thơ phú được sáng tác mang đặc sắc địa phương của nước Sở về nhạc điệu, ngôn ngữ, tên vật. Cuối thời Tây Hán, Lưu Hướng tập hợp các tác phẩm của Khuất Nguyên, Tống Ngọc, v.v., biên soạn thành sách Sở Từ. Nó cùng với Kinh Thi cấu thành nên nguồn gốc của thơ ca Trung Quốc. Phẩm chất thẩm mỹ đặc thù của văn hóa nước Sở phương Nam, cùng với trải nghiệm chính trị không bình thường và phẩm chất cá tính kiệt xuất của Khuất Nguyên, đã tạo nên văn học Sở Từ rực rỡ muôn màu.
CHƯƠNG THỨ HAI: KINH THI
Kinh Thi là tập tổng hợp thơ ca đầu tiên của nước ta, thu thập tổng cộng 305 bài thơ trong thời gian khoảng hơn 500 năm từ những năm đầu Tây Chu đến giữa thời Xuân Thu. Kinh Thi chia làm ba phần: Phong, Nhã, Tụng. Trong đó "Phong" bao gồm 15 "Quốc Phong", có 160 bài; "Nhã" chia làm "Đại Nhã" và "Tiểu Nhã", có 105 bài; "Tụng" chia làm "Chu Tụng", "Lỗ Tụng" và "Thương Tụng", có 40 bài. Nội dung các tác phẩm trong Kinh Thi rất rộng lớn, phản ảnh sâu sắc các mặt xã hội từ thời Ân Chu, đặc biệt là từ đầu Tây Chu đến giữa thời Xuân Thu. Kinh Thi giống như một bức tranh cuộn, thể hiện một cách hình tượng về chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa cũng như thế thái nhân tình, phong tục tập quán thời bấy giờ.
Hình thức 300 bài của Kinh Thi về cơ bản là thể thơ bốn chữ (tứ ngôn) chỉnh tề. Địa vực mà nó bao quát rất rộng, riêng 15 "Quốc Phong" đã gồm toàn bộ hoặc một phần các tỉnh Thiểm Tây, Sơn Tây, Sơn Đông, Hà Nam, Hà Bắc, Hồ Bắc ngày nay. Trong điều kiện giao thông cổ đại bất tiện, ngôn ngữ bất đồng, nếu không có việc thu thập và chỉnh lý có ý thức, có mục đích thì sự xuất hiện của một tập tổng hợp thơ ca có hệ thống hoàn chỉnh, nội dung phong phú như Kinh Thi e rằng không thể xảy ra. Bộ sách Kinh Thi này, có nhà khoa học cho rằng là do triều đình nhà Chu thông qua sự trợ giúp của các nước chư hầu tiến hành thu thập, sau đó mệnh lệnh cho các Nhạc sư chỉnh lý, biên soạn mà thành. Thủ pháp biểu hiện của nó chủ yếu là Phú, Tỷ, Hứng. Theo giải thích của học giả đời Tống - Chu Hi trong cuốn Thi Kinh Truyện: "Phú là phô bày việc đó mà nói thẳng ra vậy." "Tỷ là lấy cái kia so với cái này vậy." "Hứng là nói cái khác trước để gợi ra lời mến mộ vậy." Nghĩa là, Phú là trần thuật, miêu tả trực tiếp đối với sự vật; Tỷ là so sánh (ví von); Hứng là mượn sự vật khác hoặc cảnh tượng trước mắt nhìn thấy để khởi đầu, sau đó dẫn ra người hoặc việc muốn ca ngợi. Phú, Tỷ, Hứng là sự tổng kết của người xưa đối với thủ pháp nghệ thuật của Kinh Thi. Ngôn ngữ Kinh Thi chất phác mĩ lệ, nhịp điệu hài hòa êm tai. Phần có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao nhất là Dân ca, "người đói hát về thức ăn của mình, người lao động hát về công việc của mình". Bao gồm "Phong", "Nhã", "Tụng" và thủ pháp tu từ "Phú", "Tỷ", "Hứng", gọi chung là "Lục Nghĩa" (Sáu ý nghĩa) của Kinh Thi.
Kinh Thi có địa vị tôn quý và ảnh hưởng sâu rộng trong lịch sử văn học Trung Quốc, đặt nền móng cho truyền thống ưu tú của thơ ca nước ta. Khổng Tử nói: "Thơ ba trăm bài, dùng một câu có thể khái quát hết, là suy nghĩ không gian tà". Đối với đặc điểm của nó thì "ôn hòa đôn hậu, ấy là Thi giáo vậy". Khổng Tử thậm chí còn nói: "Không học Thơ, thì không biết nói năng", và thường dùng Kinh Thi để giáo dục đệ tử của mình, cho thấy ảnh hưởng sâu sắc của Kinh Thi đối với văn học cổ đại Trung Quốc. Vào đầu thế kỷ 19, nhà nghiên cứu Bích Ngao (Biot) người Pháp trong chuyên luận Từ Kinh Thi nhìn vào phong tục dân tình Trung Quốc cổ đại đã chỉ rõ: "Kinh Thi là một trong những bức tranh phong tục xuất sắc nhất mà Đông Á truyền lại cho chúng ta, cũng là một bộ văn kiện có tính chân thực không thể chối cãi", "dùng phong cách cổ朴 hiển thị cho chúng ta thấy phong tục tập quán, đời sống xã hội và mức độ phát triển văn minh thời thượng cổ". Là một trong những nguồn gốc chủ yếu của văn học Trung Quốc, Kinh Thi luôn nhận được sự tôn kính của giới đọc sách qua các thời đại, trải qua hơn hai nghìn năm đã trở thành một loại gen văn hóa, hòa vào dòng máu của văn minh Hoa Hạ.
ĐỌC TUYỂN TẬP TÁC PHẨM
Quan Thư
关关雎鸠,在河之洲。窈窕淑女,君子好逑。
参差荇菜,左右流之。窈窕淑女,寤寐求之。
求之不得,寤寐思服。悠哉悠哉,辗转反侧。
参差荇菜,左右采之。窈窕淑女,琴瑟友之。
参差荇菜,左右芼之。窈窕淑女,钟鼓乐之
[Guān guān jū jiū, zài hé zhī zhōu.
Yǎotiǎo shūnǚ, jūnzǐ hǎo qiú.
Cēncī xìng cài, zuǒyòu liú zhī.
Yǎotiǎo shūnǚ, wù mèi qiú zhī.
Qiúzhībùdé, wù mèi sī fú.
Yōuzāi yōuzāi, zhǎnzhuǎnfǎncè.
Cēncī xìng cài, zuǒyòu cǎi zhī.
Yǎotiǎo shūnǚ, qínsè yǒuzhī.
Cēncī xìng cài, zuǒyòu mào zhī.
Yǎotiǎo shūnǚ, zhōng gǔyuè zhī]
Quan quan thư cưu [1], tại hà chi châu.
Tráp tráp thục nữ, quân tử hảo cầu [2].
Tàm sai thất thái [3], tả hữu lưu chi.
Tráp tráp thục nữ, ngụm ngụm cầu chi [4].
Cầu chi bất đắc, ngụm ngụm tư phục [5].
Du h哉 du h哉, chuyển trược phản trắc.
Tàm sai thất thái, tả hữu thái chi.
Tráp tráp thục nữ, cầm sắt hữu chi [6].
Tàm sai thất thái, tả hữu mạo chi.
Tráp tráp thục nữ, chung cổ nhạc chi.
(Chú thích)
[1] Thư cưu: Tên loài chim nước, tức chim bói cá/đại bàng cá. Truyền thuyết nói loài chim này tình cảm thủy chung.
[2] Hảo cầu (hǎo qiú): Bối cảnh/phối ngẫu tốt. Cầu (求), chữ giả tá của "Cừu" (仇), có nghĩa là xứng đôi.
[3] Thất thái: Tên một loài cỏ nước (rau rau/rau mác).
[4] Ngụm (寤): Thức/ngủ dậy. Mị (寐): Đi ngủ.
[5] Tư phục: Tư niệm, thương nhớ. Phục (服): Nghĩ ngợi.
[6] Mạo (mào): Chọn lựa, hái lựa.
(Bản dịch văn xuôi)
Chim thư cưu kêu quan quan trên cồn cát giữa dòng sông. Người thiếu nữ hiền thục xinh đẹp là người bạn đời lý tưởng của người quân tử. Rau thất thái dài ngắn không đều, nương theo dòng nước hai bên mà hái lượm. Người thiếu nữ hiền thục xinh đẹp, ngày đêm nhớ nhung tha thiết tìm kiếm. Tìm kiếm mà không được như ý nguyện, đêm ngày trong lòng khắc khoải khôn nguôi. Đêm dài đằng đẵng không thấy trằn trọc xoay người khó ngủ. Rau thất thái dài ngắn không đều, hai tay trái phải hái hái. Người thiếu nữ hiền thục xinh đẹp, gảy đàn cầm đàn sắt bày tỏ lòng mến mộ. Rau thất thái dài ngắn không đều, hai bên cẩn thận lựa chọn. Người thiếu nữ hiền thục xinh đẹp, tiếng chuông tiếng trống đổi lấy nụ cười của nàng.
(Đại sư điểm bình)
"Hứng" là kỹ巧 của chủ nghĩa thực tế, quả không sai. Bài thơ này tức cảnh vật trên sông mà khởi hứng, rõ ràng là sản phẩm dân gian; việc hái rau thất thái tuy xa lạ với chúng ta, nhưng đời sống hái sen, hái củ sen, hái củ ấu thì chúng ta lại cảm nhận được. Trước tiên là nương theo dòng chảy mà hái, sau đó hái được trong tay, sau đó nấu chín mang lên bàn. Thể hiện rõ ràng một việc nhỏ nhặt cũng không dễ làm (chính là tinh thần chân thực của lao động), điều này tượng trưng cho tâm trạng và trắc trở của người quân tử khi cầu tìm thục nữ. Đến khi gạo đã nấu thành cơm, chính là lúc "nhạc bằng chung cổ", ý vị sâu xa biết bao! Đồng thời loại công việc này là thực tế trước mắt, chứ không phải ảo tưởng hư hư thực thực, một mặt tả thực một mặt lại tượng trưng, đây chính là chính cách của Bỉ Hứng, đây mới là điểm hay của thơ ca Trung Quốc. —— Phùng Văn Bỉnh ①
蒹葭 (KIÊM GIA)
NGUYÊN VĂN
蒹葭苍苍,白露为霜。所谓伊人,在水一方。 溯洄从之,道阻且长;溯游从之,宛在水中央。
蒹葭凄凄,白露未晞。所谓伊人,在水之湄。 溯洄从之,道阻且跻;溯游从之,宛在水中坻。
蒹葭采采,白露未已。所谓伊人,在水之涘。 溯洄从之,道阻且右;溯游从之,宛在水中沚。
注释 (CHÚ THÍCH)
[1] Kiêm (蒹): Cây lau chưa trổ bông. Gia (葭): Cây rời / cây lau non.
[2] Thương thương (苍苍): Tươi tốt, xanh tươi rậm rạp. Chữ "Thê thê" (凄凄) và "Thái thái" (采采) ở các đoạn sau cũng mang nghĩa tương tự.
[3] Sở vị (所谓): Điều đang nói đến, ở đây chỉ người mà trong lòng đang thương nhớ.
[4] Y nhân (伊人): Người đó, chỉ đối tượng mà lòng đang nhớ nhung, ngưỡng vọng.
[5] Nhất phương (一方): Nơi bên kia, phía bên kia.
[6] Tố hồi (溯洄): Đi ngược dòng nước. Ở câu dưới, "Tố du" (溯游) nghĩa là đi xuôi dòng nước. Có thuyết cho rằng "Hồi" chỉ dòng nước uốn lượn, "Du" chỉ dòng nước chảy thẳng.
[7] Tùng (从): Đuổi theo, tìm kiếm.
[8] Trở (阻): Hiểm trở, đường đi khó khăn.
[9] Uyển (宛): Dáng vẻ tựa như, giống như.
[10] Hi (晞): Khô ráo (sương tan).
[11] Mi (湄): Nơi tiếp giáp giữa nước và cỏ, tức là bờ nước.
[12] Tề (跻/jī): Cồn đất cao ở giữa dòng nước (đường dốc khó đi).
[13] Trì (坻/chí): Bãi cát nhỏ cồn đất ở giữa dòng nước.
[14] Sĩ (涘/sì): Bờ sông, ven nước.
[15] Hữu (右): Đường đi quanh co, uốn lượn.
[16] Chỉ (沚/zhǐ): Cồn cát nhỏ ở giữa dòng nước.
译文 (BẢN DỊCH VĂN)
Rặng lau sậy bên sông xanh rậm rạp, sương thu đêm xuống đọng lại thành băng giá. Người ở trong lòng ta hiện đang ở nơi đâu? Chính là ở phía bên kia bờ sông ấy. Đi ngược dòng nước để tìm người, đường đi thật hiểm trở lại quá dài; Đi xuôi dòng nước để tìm người, dường như người đang đứng ở ngay chính giữa dòng sông.
Rặng lau sậy bên sông mọc thật tốt tươi, giọt sương mai sáng sớm vẫn chưa khô tan. Người ở trong lòng ta hiện đang ở nơi đâu? Chính là ở ngay ven bờ sông bên kia. Đi ngược dòng nước để tìm người, đường đi dốc cao lại hiểm trở muôn vàn; Đi xuôi dòng nước để tìm người, dường như người đang đứng ở cồn cát giữa dòng sông.
Rặng lau sậy bên sông mọc dày đặc xanh tắp, giọt sương buổi sáng vẫn chưa đọng hết. Người ở trong lòng ta hiện đang ở nơi đâu? Chính là ở tận phía bờ sông đằng kia. Đi ngược dòng nước để tìm người, đường đi quanh co uốn lượn gập gềnh; Đi xuôi dòng nước để tìm người, dường như người đang đứng trên cồn đất giữa lòng sông.
(Đoạn văn tiếp nối trang trước)
...thể loại. Ở một quốc gia hiếu chiến thích đấu như nước Tần, mà lại có tác phẩm tinh xảo trong suốt, vấn vương tha thiết thế này, thực sự là một kỳ tích lớn.
Thơ lặp đi lặp lại như vậy, trước sau ba chương, chỉ thay đổi một vài từ. Nội dung thơ cũng cực kỳ đơn thuần, viết về chủ đề mà từ xưa đến nay trong và ngoài nước gọi là "vĩnh hằng": Tình yêu nam nữ. Hơn nữa chỉ chọn một cảnh tượng đặc định: Vào một buổi sáng sớm mùa thu se lạnh, trên bờ sông sương mù giăng trắng, có người đang yêu đi lại quẩn quanh, tâm thần điên đảo, sốt sắng tìm kiếm người yêu mà mình hằng thương nhớ, chỉ như vậy mà thôi. Nhưng tác phẩm lại trao cho con người cảm giác thẩm mỹ vô cùng phong phú, phong phú đến mức "chúng ta cảm thấy đọc ngàn lần cũng không chán" —— 《Lịch sử thơ ca Trung Quốc》①.
Tĩnh Nữ
Tĩnh nữ [1] kỳ thù [2],俟 [3] ngã ư thành ngu [4]. Ái nhi bất kiến [5],搔 thủ trì trừ [6].
Tĩnh nữ kỳ sảo [7],贻 [8] ngã đồng quản [9]. Đồng quản hữu vĩ [10], thuyết quái [11] nữ [12] mỹ.
Tự mộc [13] quy [14] mẫn [15], tuân [16] mỹ thả dị [17]. Phỉ [18] nữ dị vì mỹ, mỹ nhân chi quy.
静女其姝,俟我于城隅。爱而不见,搔首踟蹰。
静女其娈,贻我彤管。彤管有炜,说怿女美。
自牧归荑,洵美且异。匪女之为美,美人之贻
(Chú thích)
[1] Tĩnh nữ: Người con gái hiền thục. Tĩnh: êm đềm, nhã nhặn.
[2] Thù (shū): Tươi đẹp, xinh đẹp.
[3] Sĩ (sì): Chờ đợi.
[4] Thành ngu: Góc tường thành.
[5] Ái: Cất giấu, che giấu. Kiến: Xuất hiện.
[6] Trì trừ (chí chú): Ngập ngừng, do dự, đi đi lại lại.
[7] Sảo (luán): Xinh đẹp.
[8] Di (yí): Tặng cho.
[9] Đồng quản: Cây bút dùng để ghi chép của nữ sử thời cổ đại có thân ngòi sơn đỏ; một thuyết nói là nhạc cụ; một thuyết chỉ sinh vật dạng ống màu đỏ mới mọc.
[10] Hữu vĩ: Tươi thắm đẹp đẽ; "Hữu" là từ đầu ngữ.
[11] Thuyết quái (y悦 xí): Thuyết, thông với "Duyện" (y悦), yêu thích. Quái: Yêu thích.
[12] Nữ: Thông với "Nhữ" (汝), chỉ "Cỏ đồng quản".
[13] Mộc: Cánh đồng ngoài xa.
[14] Quy: Thông với "K馈", tặng.
[15] Mẫn (tí): Vốn chỉ mầm non của cỏ mao, mở rộng ra là mầm non của cây cỏ, tượng trưng cho hôn nhân.
[16] Tuân: Thực sự, quả thực.
[17] Dị: Đặc biệt.
[18] Phỉ: Thông với "Phi" (非), nghĩa là không, không phải.
(Bản dịch văn xuôi)
Cô gái dịu dàng xinh đẹp, hẹn gặp tôi ở góc tường thành. Cố ý giấu mình không lộ diện, khiến tôi gãi đầu đi tới đi lui tìm kiếm. Cô gái xinh đẹp dịu dàng, tặng tôi một cây ống quản màu đỏ. Cây ống quản đỏ rực rỡ, càng yêu thêm vẻ đẹp của ống quản đỏ. Từ ngoài đồng gửi tặng tôi cỏ mẫn, quả thực xinh đẹp lại kỳ lạ. Không phải bản thân cỏ mẫn đẹp, mà vật quý vì là đồ người đẹp tặng.
DANH NGÔN CÂU NÓI NỔI TIẾNG
Một ngày không gặp, như trải qua ba mùa thu. —— 《Kinh Thi - Vương Phong - Thái Cát》
Núi cao ngước nhìn, đường lớn bước đi. —— 《Kinh Thi - Tiểu Nhã - Xa Hạp》
Người nói không có tội, người nghe lấy đó làm răn. —— 《Kinh Thi - Chu Nam - Quan Thư - Tựa》
Trăng lên vầng sáng, người đẹp thướt tha. —— 《Kinh Thi - Quốc Phong - Trần Phong - Nguyệt Xuất》
Con người mà không có lễ nghĩa, sao không chết đi cho xong. —— 《Kinh Thi - Dung Phong - Tương Thử》
Hươu kêu khúc ríu rít, ăn cỏ trên đồng xanh. Ta có khách quý đến, gảy đàn thổi sáo mừng. —— 《Kinh Thi - Tiểu Nhã - Lộc Minh》
Cây đào mơn mởn, hoa nở rực rỡ. —— 《Kinh Thi - Quốc Phong - Chu Nam - Đào Yêu》
Mưa gió âm u, gà gáy không ngừng. Đã gặp quân tử, sao lại không vui? —— 《Kinh Thi - Quốc Phong - Trịnh Phong - Phong Vũ》
Chim hạc kêu ríu rít, núi Nam thẳm xa. —— 《Tiểu Nhã - Hồng Nhạn - Tư Cán》
Tựa xưa ta đi, liễu rủ thướt tha. Nay ta trở về, tuyết bay lả tả. —— 《Kinh Thi - Tiểu Nhã - Thái Vi》
Lòng này đau đớn, như áo giặt chưa khô. Lặng lẽ suy tư, không thể vỗ cánh bay. —— 《Kinh Thi - Quốc Phong - Bội Phong - Bách Chu》
Mưa gió âm u, gà gáy không ngừng. Đã gặp quân tử, sao lại không vui? —— 《Kinh Thi - Quốc Phong - Trịnh Phong - Phong Vũ》
Người hiểu ta bảo ta lòng đau đớn, người không hiểu ta bảo ta tìm kiếm điều chi. Trời xanh thẳm rộng lớn kia, ai đã gây ra nông nỗi này? —— 《Kinh Thi - Quốc Phong - Vương Phong - Thử Ly》
Sống chết có nhau, cùng nàng thề nguyện. Nắm lấy tay nàng, cùng nàng bạc đầu. —— 《Kinh Thi - Bội Phong - Kích Cổ》
Đi ra cửa Đông, có hàng vô số thiếu nữ như mây. Dù đẹp như mây, nhưng không phải người trong lòng ta. —— 《Quốc Phong - Trịnh Phong - Xuất Kỳ Đông Môn》
Người hiểu ta bảo ta lòng đau đớn, người không hiểu ta bảo ta tìm kiếm điều chi. Trời xanh thẳm rộng lớn kia, ai đã gây ra nông nỗi này? —— 《Kinh Thi - Quốc Phong - Vương Phong - Thử Ly》
Người gọi là người đẹp ấy, ở bên kia bờ nước. —— 《Kinh Thi - Tần Phong - Kiêm Gia》
Như cắt như dũa, như trạm như mài. —— 《Kinh Thi - Vệ Phong - Kỳ Úc》
Nắm lấy tay nàng, cùng nàng bạc đầu. —— 《Kinh Thi - Quốc Phong - Bội Phong - Kích Cổ》
Việc gì cũng có lúc bắt đầu, nhưng ít việc có thể trọn vẹn đến cùng. —— 《Kinh Thi - Đại Nhã - Đãng》
Người ấy hái cỏ ngải, một ngày không gặp như ba mùa thu. —— 《Kinh Thi - Quốc Phong - Vương Phong - Thái Cát》
Chuột to chuột to, đừng ăn lúa mạch của ta. Ba năm phụng sự ngươi, chẳng chút đoái hoài đến ta. Quyết từ biệt ngươi, đi đến cõi đất lành kia. —— 《Kinh Thi - Quốc Phong - Ngụy Phong - Thước Thử》
Nụ cười tươi xinh xắn, đôi mắt đẹp long lanh. —— 《Kinh Thi - Vệ Phong - Thước Nhân》
Áo chàng xanh xanh, lòng thiếp vấn vương. —— 《Kinh Thi - Quốc Phong - Trịnh Phong - Tử Kh衿》
Tay như măng non, da như mỡ đông. —— 《Kinh Thi - Vệ Phong - Thước Nhân》
Ném cho ta quả dưa hấu, đáp lại bằng viên ngọc đẹp. —— 《Kinh Thi - Quốc Phong - Vệ Phong - Mộc Qua》
CHƯƠNG THỨ BA: VĂN XUÔI LỊCH SỬ
Văn xuôi Tiên Tần là khởi đầu của văn xuôi Trung Quốc. Ranh giới giữa văn học và phi văn học thời kỳ Tiên Tần vẫn chưa rõ ràng. Văn xuôi thời bấy giờ chỉ có thể nói là một thể văn tương đối so với văn vần, về cơ bản là văn luận thuyết và văn tự sự trên các phương diện triết học, chính trị,倫 lý, lịch sử; nhưng vì chúng có tính văn học tương đối mạnh, đã tạo ra ảnh hưởng rất lớn trong sự phát triển của văn học Trung Quốc, cho nên được xem là một bộ phận cấu thành quan trọng của văn học Tiên Tần.
Văn xuôi lịch sử Tiên Tần được hình thành và dần trưởng thành trên cơ sở truyền thống văn hóa Sử quan. Sự phát triển của văn xuôi lịch sử đại thể có thể chia làm ba giai đoạn:
Một, Giai đoạn thứ nhất lấy 《Thượng Thư》 và 《Xuân Thu》 làm đại diện
Thượng Thư là tập hợp văn kiện lịch sử sớm nhất của nước ta, có ý nghĩa đặt nền móng trên lịch sử văn xuôi cổ đại Trung Quốc. Xuân Thu do Khổng Tử biên soạn là sách lịch sử biên niên theo thời đại đầu tiên của nước ta, là tổ tiên của sách sử biên niên, thể tài và "bút pháp" của nó đều tạo ra ảnh hưởng kinh điển đối với văn xuôi đời sau.
Hai, Giai đoạn thứ hai lấy 《Tả Truyện》 và 《Quốc Ngữ》 làm đại diện
Tả Truyện là sách sử biên niên chép sự việc đầy đủ đầu tiên của nước ta, cũng là tác phẩm nổi bật nhất về tính tư tưởng và tính nghệ thuật trong văn xuôi lịch sử Tiên Tần. Quốc Ngữ là sách sử quốc biệt sớm nhất của nước ta, do tư liệu lịch sử các nước tập hợp thành.
Ba, Giai đoạn thứ ba lấy 《Chiến Quốc Sách》 làm đại diện
Chiến Quốc Sách cũng là một cuốn sách sử quốc biệt, chủ yếu ghi chép lời nói và hành động của các mưu thần mưu sĩ thời Chiến Quốc.
Xuân Thu là cuốn sử biên niên sớm nhất ghi chép thời Chiến Quốc do Khổng Tử biên soạn. Sách ghi chép các sự kiện lớn của các nước trong 242 năm từ năm Ẩn Công thứ nhất nước Lỗ (năm 722 TCN) đến năm Ai Công thứ mười bốn (năm 480 TCN). Khổng Tử dựa theo quan điểm của mình đã đưa ra một số nhận định đối với các sự kiện ghi chép, lựa chọn những chữ mà ông cho là thỏa đáng để ngụ ý khen chê ẩn kín, đây chính là điều mọi người thường nói là "Vi ngôn đại nghĩa". Tả Truyện phỏng theo thể tài của nó, nương theo thứ tự của 12 vị quân chủ nước Lỗ để ghi chép, toàn bộ sách gồm 30 quyển, ghi chép chi tiết các sự kiện chính trị, ngoại giao, xã hội của các nước thời Xuân Thu cũng như hoạt động của một số nhân vật đại biểu. Xét từ góc độ văn học, nó có thành tựu nghệ thuật rất cao, đã sáng tạo nên cấu trúc chương thiên tinh tế chặt chẽ và ngôn ngữ văn học giàu sức hút, miêu tả sinh động một loạt hình tượng nhân vật, đặc biệt giỏi dùng giọng điệu uyển chuyển thấu đáo để viết về các sự kiện chiến tranh phức tạp. Như trận Trường Thược giữa Tề và Lỗ, trận Thành Hoắc giữa Tấn và Sở đều có tình tiết căng thẳng và cực kỳ drama (mang tính kịch), trở thành điển phạm cho văn xuôi tự sự đời sau. Chiến Quốc Sách còn gọi là Quốc Sách, tương truyền là bản tập hợp chép lại của Sử quan các nước hoặc các sách sĩ thời Chiến Quốc. Thời Tây Hán, trải qua sự chỉnh lý của Lưu Hướng, biên soạn thành 33 thiên, chủ yếu ghi chép lại các chủ trương chính trị và chiến lược đấu tranh do các mưu thần, sách sĩ đưa ra khi du thuyết các nước hoặc tranh luận lẫn nhau thời bấy giờ. Trong đó có truyện ký, câu chuyện, luận biện, thư tín, phản ánh cuộc đấu tranh chính trị sắc bén và phức tạp giữa các nước thời bấy giờ, tiếp nối văn xuôi Tiên Tần...
(Đoạn văn tiếp nối từ trang trước) Sau Xuân Thu và Tả Truyện lại là một bộ văn xuôi lịch sử nổi tiếng. Về sáng tạo nghệ thuật, so với Tả Truyện lại có sự phát triển, thường miêu tả sinh động lời nói hành động của nhân vật trong các sự kiện chính trị phức tạp, khắc họa nên không ít hình tượng nhân vật sống động như thật và viết ra không ít câu chuyện có tình tiết trắc trở. Như Phùng Huyên Khách Mạnh Thường Quân, Kinh Kha Thích Tần Vương, Xúc Long Thuyết Triệu Thái Hậu, Tô Tần Thủy Tướng Liên Hoành, v.v., đều là những thiên nổi tiếng được truyền tụng rộng rãi. Bộ sách này đặc biệt coi trọng nghệ thuật ngôn ngữ, sử dụng lượng lớn các thủ pháp nghệ thuật như khoa trương, so sánh, điệp ngữ, lại pha trộn các câu chuyện ngụ ngôn, thể hiện ra đặc trưng rõ nét là "phô trương bay bổng", "biện xao phóng túng". Quốc Ngữ tổng cộng 21 quyển, tương truyền do Tả Kh丘 Minh sáng tác. Cuốn sách này ghi chép có trọng tâm về một số sự kiện trong lịch sử các nước, chữ viết chất phác dễ hiểu, đặc điểm là giỏi về ghi lại lời nói, đồng thời cũng giỏi miêu tả thần thái nhân vật.
TIẾT THỨ NHẤT: TẢ TRUYỆN
Xuân Thu Tả Thị Truyện tên gốc là Tả Thị Xuân Thu, tương truyền do Tả Kh丘 Minh sáng tác. Cuốn sách này chủ yếu ghi chép các sự kiện quan trọng và nhân vật quan trọng trên các phương diện chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao và văn hóa trong 254 năm thời kỳ đầu Đông Chu, là văn kiện rất có giá trị để nghiên cứu lịch sử Tiên Tần Trung Quốc, cũng là tác phẩm văn xuôi xuất sắc.
Đối mặt với sự thực lịch sử biến đổi phức tạp, Tả Truyện dám thẳng tay chép thực, không hư mỹ, không giấu ác, các sự kiện và nhân vật được ghi chép có tính chân thực lịch sử rất cao. Toàn bộ sách miêu tả chân thực về sự trần thuật cụ thể cuộc đấu tranh công khai lẫn ngầm giữa vua Chu với chư hầu, giữa các chư hầu với nhau và nội bộ các nước chư hầu, cũng như biểu hiện khác nhau giữa sự cao thượng và đớn hèn, sự光明 và xảo quyệt của nhiều nhân vật thời kỳ này, đều thể hiện tầm nhìn và bản lĩnh của một nhà lịch sử chân chính. Tả Truyện trên cơ sở ghi chép sự việc chân thực lại thể hiện xu hướng nhất định, không chỉ trong việc lựa chọn tư liệu lịch sử hoặc trần thuật sự kiện thường thể hiện thái độ khác nhau của sự yêu ghét và khen chê, mà còn thường dùng hình thức "Quân tử viết" để trực tiếp bình luận bàn luận, hoặc đưa ra sự khiển trách, hoặc biểu thị đau xót, hoặc thêm vào sự khen ngợi, v.v.. Những bình luận này, có cái là "lời tự bộc bạch" của tác giả, có cái có lẽ là "xuất phát từ người thời bấy giờ" mà được Tả Thị thừa nhận, đều thể hiện sự đánh giá đúng sai rõ ràng, thể hiện tầm nhìn lịch sử và đạo đức lịch sử của tác giả Tả Truyện.
ĐỌC TUYỂN TẬP TÁC PHẨM: Tào Mạt Luận Chiến [1]
Trường Thược [2] xuân, Tề sư phạt ngã [3]. Công [4] tương chiến. Tào Mạt thẩm kiến. Kỳ hương nhân viết: "Nhục thực giả [5] mưu chi, hữu hà gian [6] yên?" Mạt viết: "Nhục thực giả bỉ [7], vị năng viễn mưu." Nãi nhập kiến. Vấn: "Hà dĩ chiến?" [8] Công viết: "Y thực sở an [9], phất cảm chuyên dã, tất dĩ phân nhân [10]." Đối [11] viết: "Tiểu huệ vị biến [12], dân phất tòng dã." Công viết: "Hy sinh ngọc bạch [13], phất cảm gia [14] dã, tất dĩ tín [15]." Đối viết: "Tiểu tín vị phất [16], thần phất phúc [17] dã." Công viết: "Tiểu đại chi ngục [18], tuy [19] bất năng sát [20], tất dĩ tình [21]." Đối viết: "Trung chi thuộc dã [22], khả dĩ nhất chiến [23]. Chiến tất thỉnh tòng [24]."
Công dữ chi thừa [25]. Chiến ư Trường Thược. Công tương cổ [26] chi, Mạt viết: "Vị khả." Tề nhân tam cổ. Mạt viết: "Khả hĩ." Tề sư bại tích [27]. Công tương trì [28] chi, Mạt viết: "Vị khả." Hạ thị kỳ轍 [29], đăng thức [30] nhi vọng chi, viết: "Khả hĩ." To遂 [31] trục Tề sư.
Ký khắc [32], công vấn kỳ cố [33]. Đối viết: "Phù chiến [34], dũng khí dã. Nhất cổ tác khí [35], tái [36] nhi suy, tam nhi kiệt. Bỉ kiệt ngã doanh [37], cố khắc chi. Phù đại quốc, nan trắc [38] dã, hựu khủng hữu phục [39] yên. Ngô thị kỳ轍 loạn, vọng kỳ kỳ mĩ [40], cố trục chi."
(Chú thích)
[1] Trích từ 《Tả Truyện - Trang Công Thập Niên》: Kể về việc Tào Mạt bình luận về cuộc chiến Trường Thược và sử dụng linh hoạt nguyên lý "Nhất cổ tác khí, tái nhi suy, tam nhi kiệt" trong chiến đấu để đánh bại quân Tề mạnh lớn.
[2] Thập niên: Năm Trang Công thứ mười nước Lỗ (năm 684 TCN).
[3] Ngã: Tả Truyện dựa theo lịch sử nước Lỗ để viết, nên gọi nước Lỗ là "Ngã" (Ta/Nước ta).
[4] Công: Chỉ Lỗ Trang Công.
[5] Nhục thực giả: Ở đây chỉ những người ở vị trí cao, hưởng lộc hậu.
[6] Gian: Tham gia.
[7] Bỉ: Bỉ hẹp, nông cạn. Ở đây chỉ tầm nhìn ngắn hẹp.
[8] Hà dĩ chiến: Tức "Dĩ hà chiến", dựa vào cái gì để đánh trận. Dĩ: Dựa vào.
[9] Y thực sở an, phất cảm chuyên dã: Những thứ nuôi sống như quần áo thức ăn không dám một mình hưởng thụ. An: Có nghĩa là "Nuôi". Phất: Không. Chuyên: Cá nhân sở hữu.
[10] Tất dĩ phân nhân: Tức là "Tất dĩ chi phân nhân", nhất định đem chia cho người khác.
[11] Đối: Trả lời.
[12] Biến: Thông với "Biến" (遍), lan tỏa khắp, phổ biến.
[13] Hy sinh ngọc bạch (bó): Vật tế lễ thời cổ đại. Hy sinh chỉ lợn, bò, dê, v.v. Bó: Lụa là.
[14] Gia: Báo hư khống, báo thêm.
[15] Tín: Tình hình thực tế.
[16] Tiểu tín vị phất (fú): (Đây chỉ là) chữ tín nhỏ, chưa thể khiến thần linh tin phục. Phất: Được người ta tin phục.
[17] Phúc: Ban phúc, bảo hộ.
[18] Ngục: Vụ án.
[19] Tuy: Cho dù.
[20] Sát: Minh sát, xét soi rõ ràng.
[21] Tình: (Dựa vào) tình hình thực tế để phán đoán.
[22] Trung chi thuộc dã: Đây là việc làm hết chức trách nhiệm vụ. Trung: Cố gắng hết sức làm tốt công việc của mình.
[23] Khả dĩ nhất chiến: Có thể dựa vào điều kiện này để đánh một trận.
[24] Chiến tắc thỉnh tòng: Nếu tác chiến, xin hãy cho phép tôi đi theo.
[25] Công dữ chi thừa: Lỗ Trang Công và ông ngồi chung một xe chiến. Chi: Chỉ Tào Mạt.
[26] Cổ: Đánh trống tiến quân. Thời cổ tác chiến, đánh trống để hạ lệnh cho quân tiến lên. Từ "Tam cổ" ở dưới nghĩa là đánh trống ba lần ra lệnh cho quân đội xuất kích.
[27] Bại tích: Đại bại.
[28] Trì: Đánh xe đuổi theo.
[29] Vết xe (zhé): Vết bánh xe in xuống đất.
[30] Đăng thức: Trèo lên thanh gỗ ngang phía trước xe. Thức: Thanh gỗ ngang phía trước xe thời cổ.
[31] Trục: Đuổi theo, truy kích.
[32] Ký khắc: Sau khi đã chiến thắng quân Tề. Ký: Đã.
[33] Cố: Nguyên nhân, lý do.
[34] Phù chiến, dũng khí dã: Đánh trận, dựa vào dũng khí. Phù: Phát ngữ từ, khi bàn luận hoặc giải thích thì dùng ở đầu câu, không có ý nghĩa thực.
[35] Nhất cổ tác khí: Lần đánh trống thứ nhất có thể chấn hưng sĩ khí. Tác: Chấn hưng.
[36] Tái: Lần thứ hai.
[37] Doanh: Tràn đầy. Ở đây chỉ sĩ khí đang hăng hái.
[38] Trắc: Suy đoán, ước lượng.
[39] Phục: Mai phục.
[40] Mĩ: Đổ xuống.
(Bản dịch văn xuôi) Vào mùa xuân năm thứ mười thời Lỗ Trang Công, quân đội nước Tề tấn công nước Lỗ, Lỗ Trang Công chuẩn bị nghênh chiến. Tào Mạt xin vào kiến diện Lỗ Trang Công. Người cùng làng nói với ông: "Người có quyền vị tự sẽ mưu tính việc này, ông việc gì phải tham gia?" Tào Mạt nói: "Người có quyền vị tầm nhìn ngắn hẹp, không thể lo xa nghĩ rộng." Thế là vào cung kiến diện Lỗ Trang Công. Tào Mạt hỏi Lỗ Trang Công: "Ngài dựa vào cái gì để đánh nhau với nước Tề?" Lỗ Trang Công nói: "Những thứ dùng để nuôi sống con người như quần áo thức ăn, tôi không dám một mình hưởng thụ, nhất định sẽ chia cho người khác." Tào Mạt trả lời: "Những ân huệ nhỏ này không thể ban khắp tới người dân, người dân sẽ không theo ngài đâu." Lỗ Trang Công nói: "Những thứ dùng để tế lễ như bò, cừu, ngọc bạch, tôi không dám báo khống số lượng, nhất định dùng thái độ thành thực để đối xử với thần linh." Tào Mạt trả lời: "Đây chỉ là chữ tín nhỏ, chưa thể khiến thần linh tin cậy, thần linh sẽ không bảo hộ ngài đâu." Lỗ Trang Công nói: "Đối với các vụ án lớn nhỏ, tôi tuy không thể nhất nhất điều tra rõ ràng, nhưng nhất định sẽ dốc lòng dốc sức để xử lý dựa trên tình hình thực tế." Tào Mạt trả lời: "Đây là hành vi tận trung với chức trách, có thể dựa vào điều này để đánh một trận. Khi tác chiến xin hãy cho tôi đi cùng ngài."
Lỗ Trang Công và Tào Mạt ngồi chung một chiến xe, giao chiến với quân Tề ở Trường Thược. Mới đầu, Lỗ Trang Công định đánh trống tiến quân, Tào Mạt nói: "Chưa được." Sau khi người nước Tề đánh ba hồi trống, Tào Mạt nói: "Được rồi." Quân Tề đại bại. Lỗ Trang Công lại muốn hạ lệnh ra xe đuổi đánh quân Tề, Tào Mạt nói: "Chưa được." Ông bước xuống xe cẩn thận quan sát vết bánh xe do chiến xe nước Tề để lại, lại trèo lên thanh gỗ ngang trước xe nhìn xa về hướng quân Tề rút quân, lúc này mới nói: "Được rồi." Thế là đuổi đánh quân Tề.
Sau khi chiến thắng, Lỗ Trang Công hỏi ông lý do giành chiến thắng. Tào Mạt trả lời: "Đánh trận, dựa vào dũng khí. Đánh trống lần thứ nhất, sĩ khí chấn hưng; đánh trống lần thứ hai, dũng khí suy giảm; đánh trống lần thứ ba, sĩ khí đã tiêu hao hết rồi. Địch phương không còn sĩ khí, mà sĩ khí phía ta đang hăng hái, cho nên mới đánh thắng được kẻ địch. Hành động của nước lớn khó mà lường trước, sợ rằng họ có quân mai phục. Tôi nhìn thấy vết bánh xe của họ hỗn loạn, lại nhìn thấy cờ trận của họ đã đổ xuống, quả thực là dáng vẻ thất bại rút quân, cho nên mới quyết định đuổi đánh họ."
(Đại sư điểm bình) Trong tác phẩm tự sự Trung Quốc đặc biệt là Tả Truyện, chúng ta sẽ gặp rất nhiều nhân vật tĩnh, đây là một đặc điểm thu hút sự chú ý. Nhân vật tĩnh trong suốt câu chuyện tính cách đều giữ nguyên không đổi. Trong Tả Truyện, dường như chỉ cần nhân vật một khi đã được cố định trong một khuôn mẫu nào đó, thông thường ông ta sẽ giữ nguyên không đổi, mà cực kỳ ít khi có sự bứt phá. Dựa vào địa vị xã hội và phẩm chất đạo đức của họ, chúng ta ở trong Tả Truyện tìm thấy các thể loại dưới đây: Nhà trị quốc tốt lành mà tài năng; nhà trị quốc tồi tệ mà ngu dốt; đại thần sáng suốt mà trung thành; đại thần có quyền có thế có dã tâm mà lại tàn ác; người phụ nữ đáng thương bị hại bởi cái danh nghĩa bề ngoài của việc chấp hành lý niệm; người phụ nữ chí công vô tư và có tầm nhìn xa trông rộng; người phụ nữ hại nước hại dân; người chủ sẵn sàng牺牲 tính mạng bản thân để bảo vệ kẻ xấu vô dụng. —— Vương Tĩnh Vũ. Trích từ 《Từ Tả Truyện nhìn vào tác phẩm tự sự cổ đại Trung Quốc》[M]. Bắc Kinh: Nhà xuất bản Đại học Bắc Kinh, 1989.
THÀNH NGỮ ĐIỂN CỐ
1. Đông Đạo Chủ
《Tả Truyện - Hi Công Tam Thập Niên》: "Nhược xả Trịnh dĩ vi Đông đạo chủ, hành lý chi往 lai, cộng kỳ乏困, quân diệc vô sở hại." Nước Trịnh ở phía đông nước Tần, nên xưng là Đông đạo chủ. Nguyên chỉ chủ nhân trên đường đi về phía Đông, sau này chỉ chủ nhân đãi khách.
2. Thối Tị Tam Xá
《Tả Truyện - Hi Công Nhị Thập Tam Niên》: "Tấn, Sở trị binh, ngộ ư Trung Nguyên, kỳ tị quân tam xá." Lại 《Hi Công Nhị Thập Bát Niên》: "Tử Phạm viết: '...Vi Sở chi huệ bất nhập cảm, thối tam xá bị chi, sở dĩ báo dã.'" Bị: Đồng nghĩa với "Tị" (nhường/tránh), Xá: Thời Xuân Thu hành quân 30 dặm tính là một xá. Chỉ việc lùi lại 90 dặm, nhượng bộ và nhường bước để tránh xung đột.
3. Ngôn Quy Vu Hảo
《Tả Truyện - Ẩn Công Cửu Niên》: "Phàm ngã đồng m盟 chi nhân, ký m盟 chi hậu, ngôn quy vu hảo." Ngôn: Từ đệm đầu câu, không có ý nghĩa thực tế. Đôi bên giảng hòa lại như xưa.
4. Kiêu Xa Dâm Dật
《Tả Truyện - Ẩn Công Tam Niên》: "Kiêu xa dâm dật, sở tự tà dã." Dật: Phóng túng. Nguyên chỉ 4 thói xấu: Ngang ngược, xa hoa, hoang dâm, phóng túng. Sau này miêu tả cuộc sống phóng túng xa hoa, không có mực thước.
5. Mị Mị Mỗ Mỗ
《Tả Truyện - Tuyên Công Tam Niên》: "Mị mị mỗ mỗ, mạc năng phùng chi." Vốn chỉ ma quỷ trong truyền thuyết, nay dùng để ví với các loại người xấu khác nhau.
6. Cập Qua Nhi Đại
《Tả Truyện - Trang Công Bát Niên》: "Tề hầu sử Liên Xứng, Quản Chí Phụ hứu Qu葵 Kh丘, qua thời nhi往, viết: 'Cập qua nhi đại.'" Cập: Đến. Đại: Thay thế, tiếp thế. Đợi đến mùa dưa chín năm sau sẽ sai người đến thay thế. Ví chung với việc nhiệm kỳ hết hạn, do người khác tiếp nhiệm.
7. Lang Tử Dã Tâm
《Tả Truyện - Tuyên Công Tứ Niên》: "Sở Tư mã Tử Lương sinh Tử Cốc Ô [Tử Tiêu]. Tử Văn viết: 'Tất sát chi! Thị tử dã, hùng hổ chi trạng nhi xạ lang chi thanh, phất sát, tất m灭 Nhược Chi thị h矣.' T谚 viết: 'Lang tử dã tâm.' Thị nãi lang dã, kỳ khả súc hồ?" Nguyên ý chỉ con của loài sói tuy nhỏ nhưng đã có bản tính dữ tợn. Sau dùng để ví người hung ác độc dã thì nhất định có dã tâm.
8. Ngoại Cường Trung Can
《Tả Truyện - Hi Công Thập Ngũ Niên》: "Kim thừa dị sản dĩ tòng nhung sự, cấp câu nhi biến... trương mạch phái興, ngoại cường trung can, tiến thối bất khả, chu toàn bất năng, tất tất mộc chi." Nguyên chỉ con ngựa cưỡi tuy bề ngoài mạnh mẽ, thực chất trống rỗng, sau dùng để chỉ người hoặc sự vật bề ngoài mạnh mẽ nhưng bên trong yếu ớt.
9. Lệ Binh Mạt Mã
《Tả Truyện - Hi Công Tam Thập Tam Niên》: "Trịnh Mục Công sử thị khách quán, tắc th束 tải lệ binh mạt mã h矣." Lệ: Đồng nghĩa với "Lệ", đá mài, kéo rộng ra là mài dao kéo. Binh: Binh khí. Mạt: Cho ngựa ăn. Mài sắc binh khí, cho chiến ngựa ăn no, miêu tả việc chuẩn bị sẵn sàng cho chiến đấu.
10. Khốn Thú Do Đấu
《Tả Truyện - Tuyên Công Thập Nhị Niên》: "Khốn thú do đấu, huống quốc tương hồ?" Dã thú bị vây hãm còn muốn va chạm, mưu toan đột phá. Ví với việc trong cảnh đường cùng vẫn giãy giụa chống cự.
11. Phong Mã Ngưu (Phong Mã Ngưu Bất Tương Cập)
《Tả Truyện - Hi Công Tứ Niên》: "Quân xứ Bắc Hải, quả nhân xứ Nam Hải, duy thị phong mã ngưu bất tương cập dã." Phong: Đực cái đuổi nhau. Ngựa bò khác loài, sẽ không vì đực cái dụ dỗ mà lại gần nhau. Ý nói hai nơi Tề Sở cách nhau rất xa. Ví với việc các sự vật hoàn toàn không liên quan gì đến nhau.
12. Tiên Trường Mạc Cập
《Tả Truyện - Tuyên Công Thập Ngũ Niên》: "Cổ nhân hữu ngôn viết: 'Tuy tiên chi trường, bất cập mã phúc.'" Nguyên ý là roi tuy rất dài nhưng không đánh tới bụng ngựa. Sau ví với sức lực không với tới được.
13. Thành Hạ Chi Minh
《Tả Truyện - Hoàn Công Thập Nhị Niên》: "Sở nhân phạt Sấm... đại bại chi, vi thành hạ chi minh nhi hoàn." Khi binh đao của kẻ địch đã đến dưới thành thì buộc phải ký kết hòa ước nhục nhã.
14. Cư An Tư Nguy
《Tả Truyện - Tương Công Thập Nhất Niên》: "Cư an tư nguy, tư tắc hữu bị, hữu bị vô hoạn..." Dù ở trong hoàn cảnh bình an, cũng nghĩ đến khả năng xuất hiện nguy hiểm. Chỉ việc chuẩn bị tư tưởng sẵn sàng ứng phó với sự cố bất ngờ bất cứ lúc nào.
DỊCH VĂN (Tiếp theo)
Vào mùa xuân năm thứ mười thời Lỗ Trang Công, quân đội nước Tề tấn công nước Lỗ, Lỗ Trang Công chuẩn bị nghênh chiến. Tào Mạt xin vào kiến diện Lỗ Trang Công. Người cùng làng nói với ông: "Người có quyền vị tự sẽ mưu tính việc này, ông việc gì phải tham gia?" Tào Mạt nói: "Người có quyền vị tầm nhìn ngắn hẹp, không thể lo xa nghĩ rộng." Thế là vào cung kiến diện Lỗ Trang Công. Tào Mạt hỏi Lỗ Trang Công: "Ngài dựa vào cái gì để đánh nhau với nước Tề?" Lỗ Trang Công nói: "Những thứ dùng để nuôi sống con người như quần áo thức ăn, tôi không dám một mình hưởng thụ, nhất định sẽ chia cho người khác." Tào Mạt trả lời: "Những ân huệ nhỏ này không thể ban khắp tới người dân, người dân sẽ không theo ngài đâu." Lỗ Trang Công nói: "Những thứ dùng để tế lễ như bò, cừu, ngọc bạch, tôi không dám báo khống số lượng, nhất định dùng thái độ thành thực để đối xử với thần linh." Tào Mạt trả lời: "Đây chỉ là chữ tín nhỏ, chưa thể khiến thần linh tin cậy, thần linh sẽ không bảo hộ ngài đâu." Lỗ Trang Công nói: "Đối với các vụ án lớn nhỏ, tôi tuy không thể nhất nhất điều tra rõ ràng, nhưng nhất định sẽ dốc lòng dốc sức để xử lý dựa trên tình hình thực tế." Tào Mạt trả lời: "Đây là hành vi tận trung với chức trách, có thể dựa vào điều này để đánh một trận. Khi tác chiến xin hãy cho tôi đi cùng ngài."
Lỗ Trang Công và Tào Mạt ngồi chung một chiến xe, giao chiến với quân Tề ở Trường Thược. Mới đầu, Lỗ Trang Công định đánh trống tiến quân, Tào Mạt nói: "Chưa được." Sau khi người nước Tề đánh ba hồi trống, Tào Mạt nói: "Được rồi." Quân Tề đại bại. Lỗ Trang Công lại muốn hạ lệnh ra xe đuổi đánh quân Tề, Tào Mạt nói: "Chưa được." Ông bước xuống xe cẩn thận quan sát vết bánh xe do chiến xe nước Tề để lại, lại trèo lên thanh gỗ ngang trước xe nhìn xa về hướng quân Tề rút quân, lúc này mới nói: "Được rồi." Thế là đuổi đánh quân Tề.
Sau khi chiến thắng, Lỗ Trang Công hỏi ông lý do giành chiến thắng. Tào Mạt trả lời: "Đánh trận, dựa vào dũng khí. Đánh trống lần thứ nhất, sĩ khí chấn hưng; đánh trống lần thứ hai, dũng khí suy giảm; đánh trống lần thứ ba, sĩ khí đã tiêu hao hết rồi. Địch phương không còn sĩ khí, mà sĩ khí phía ta đang hăng hái, cho nên mới đánh thắng được kẻ địch. Hành động của nước lớn khó mà lường trước, sợ rằng họ có quân mai phục. Tôi nhìn thấy vết bánh xe của họ hỗn loạn, lại nhìn thấy cờ trận của họ đã đổ xuống, quả thực là dáng vẻ thất bại rút quân, cho nên mới quyết định đuổi đánh họ."
ĐẠI SƯ ĐIỂM BÌNH
Trong tác phẩm tự sự Trung Quốc đặc biệt là Tả Truyện, chúng ta sẽ gặp rất nhiều nhân vật tĩnh, đây là một đặc điểm thu hút sự chú ý. Nhân vật tĩnh trong suốt câu chuyện tính cách đều giữ nguyên không đổi. Trong Tả Truyện, dường như chỉ cần nhân vật một khi đã được cố định trong một khuôn mẫu nào đó, thông thường ông ta sẽ giữ nguyên không đổi, mà cực kỳ ít khi có sự bứt phá. Dựa vào địa vị xã hội và phẩm chất đạo đức của họ, chúng ta ở trong Tả Truyện tìm thấy các thể loại dưới đây: Nhà trị quốc tốt lành mà tài năng; nhà trị quốc tồi tệ mà ngu dốt; đại thần sáng suốt mà trung thành; đại thần có quyền có thế có dã tâm mà lại tàn ác; người phụ nữ đáng thương bị hại bởi cái danh nghĩa bề ngoài của việc chấp hành lý niệm; người phụ nữ chí công vô tư và có tầm nhìn xa trông rộng; người phụ nữ hại nước hại dân; người chủ sẵn sàng hy sinh tính mạng bản thân để bảo vệ kẻ xấu vô dụng.
—— Vương Tĩnh Vũ. Trích từ 《Từ Tả Truyện nhìn vào tác phẩm tự sự cổ đại Trung Quốc》[M]. Bắc Kinh: Nhà xuất bản Đại học Bắc Kinh, 1989.
THÀNH NGỮ ĐIỂN CỐ
1. Đông Đạo Chủ
《Tả Truyện - Hi Công Tam Thập Niên》: "Nhược xả Trịnh dĩ vi Đông đạo chủ, hành lý chi往 lai, cộng kỳ乏困, quân diệc vô sở hại." Nước Trịnh ở phía đông nước Tần, nên xưng là Đông đạo chủ. Nguyên chỉ chủ nhân trên đường đi về phía Đông, sau này chỉ chủ nhân đãi khách.
2. Thối Tị Tam Xá
《Tả Truyện - Hi Công Nhị Thập Tam Niên》: "Tấn, Sở trị binh, ngộ ư Trung Nguyên, kỳ tị quân tam xá." Lại 《Hi Công Nhị Thập Bát Niên》: "Tử Phạm viết: '...Vi Sở chi huệ bất nhập cảm, thối tam xá bị chi, sở dĩ báo dã.'" Bị: Đồng nghĩa với "Tị" (nhường/tránh), Xá: Thời Xuân Thu hành quân 30 dặm tính là một xá. Chỉ việc lùi lại 90 dặm, nhượng bộ và nhường bước để tránh xung đột.
3. Ngôn Quy Vu Hảo
《Tả Truyện - Ẩn Công Cửu Niên》: "Phàm ngã đồng minh chi nhân, ký minh chi hậu, ngôn quy vu hảo." Ngôn: Từ đệm đầu câu, không có ý nghĩa thực tế. Đôi bên giảng hòa lại như xưa.
4. Kiêu Xa Dâm Dật
《Tả Truyện - Ẩn Công Tam Niên》: "Kiêu xa dâm dật, sở tự tà dã." Dật: Phóng túng. Nguyên chỉ 4 thói xấu: Ngang ngược, xa hoa, hoang dâm, phóng túng. Sau này miêu tả cuộc sống phóng túng xa hoa, không có mực thước.
5. Mị Mị Mỗ Mỗ
《Tả Truyện - Tuyên Công Tam Niên》: "Mị mị mỗ mỗ, mạc năng phùng chi." Vốn chỉ ma quỷ trong truyền thuyết, nay dùng để ví với các loại người xấu khác nhau.
6. Cập Qua Nhi Đại
《Tả Truyện - Trang Công Bát Niên》: "Tề hầu sử Liên Xứng, Quản Chí Phụ hứu Quỳ Kh丘 (hai người đều là Đại phu nước Tề) mậu Quỳ Kh丘, qua thời nhi往, viết: 'Cập qua nhi đại.'" Cập: Đến. Đại: Thay thế, tiếp thế. Đợi đến mùa dưa chín năm sau sẽ sai người đến thay thế. Ví chung với việc nhiệm kỳ hết hạn, do người khác tiếp nhiệm.
7. Lang Tử Dã Tâm
《Tả Truyện - Tuyên Công Tứ Niên》: "Sở Tư mã Tử Lương sinh Tử Cốc Ô [Tử Tiêu]. Tử Văn viết: 'Tất sát chi! Thị tử dã, hùng hổ chi trạng nhi xạ lang chi thanh, phất sát, tất m灭 Nhược Chi thị h矣.' Tục ngữ viết: 'Lang tử dã tâm.' Thị nãi lang dã, kỳ khả súc hồ?" Nguyên ý chỉ con của loài sói tuy nhỏ nhưng đã có bản tính dữ tợn. Sau dùng để ví người hung ác độc dã thì nhất định có dã tâm.
8. Ngoại Cường Trung Can
《Tả Truyện - Hi Công Thập Ngũ Niên》: "Kim thừa dị sản dĩ tòng nhung sự, cấp câu nhi biến... trương mạch phái興, ngoại cường trung can, tiến thối bất khả, chu toàn bất năng, tất tất mộc chi." Nguyên chỉ con ngựa cưỡi tuy bề ngoài mạnh mẽ, thực chất trống rỗng, sau dùng để chỉ người hoặc sự vật bề ngoài mạnh mẽ nhưng bên trong yếu ớt.
9. Lệ Binh Mạt Mã
《Tả Truyện - Hi Công Tam Thập Tam Niên》: "Trịnh Mục Công sử thị khách quán, tắc th束 tải lệ binh mạt mã h矣." Lệ: Đồng nghĩa với "Lệ", đá mài, kéo rộng ra là mài dao kéo. Binh: Binh khí. Mạt: Cho ngựa ăn. Mài sắc binh khí, cho chiến ngựa ăn no, miêu tả việc chuẩn bị sẵn sàng cho chiến đấu.
10. Khốn Thú Do Đấu
《Tả Truyện - Tuyên Công Thập Nhị Niên》: "Khốn thú do đấu, huống quốc tương hồ?" Dã thú bị vây hãm còn muốn va chạm, mưu toan đột phá. Ví với việc trong cảnh đường cùng vẫn giãy giụa chống cự.
11. Phong Mã Ngưu (Phong Mã Ngưu Bất Tương Cập)
《Tả Truyện - Hi Công Tứ Niên》: "Quân xứ Bắc Hải, quả nhân xứ Nam Hải, duy thị phong mã ngưu bất tương cập dã." Phong: Đực cái đuổi nhau. Ngựa bò khác loài, sẽ không vì đực cái dụ dỗ mà lại gần nhau. Ý nói hai nơi Tề Sở cách nhau rất xa. Ví với việc các sự vật hoàn toàn không liên quan gì đến nhau.
12. Tiên Trường Mạc Cập
《Tả Truyện - Tuyên Công Thập Nhũ Niên》: "Cổ nhân hữu ngôn viết: 'Tuy tiên chi trường, bất cập mã phúc.'" Nguyên ý là roi tuy rất dài nhưng không đánh tới bụng ngựa. Sau ví với sức lực không với tới được.
13. Thành Hạ Chi Minh
《Tả Truyện - Hoàn Công Thập Nhị Niên》: "Sở nhân phạt Sấm... đại bại chi, vi thành hạ chi minh nhi hoàn." Khi binh đao của kẻ địch đã đến dưới thành thì buộc phải ký kết hòa ước nhục nhã.
14. Cư An Tư Nguy
《Tả Truyện - Tương Công Thập Nhất Niên》: "Cư an tư nguy, tư tắc hữu bị, hữu bị vô hoạn..." Dù ở trong hoàn cảnh bình an, cũng nghĩ đến khả năng xuất hiện nguy hiểm. Chỉ việc chuẩn bị tư tưởng sẵn sàng ứng phó với sự cố bất ngờ bất cứ lúc nào.
15. Môi Chuyết Xỉ Hàn (Môi Hở Răng Lạnh)
《Tả Truyện - Hi Công Ngũ Niên》: "Môi xỉ tương y, môi vong xỉ hàn." Má và xương hàm, môi và răng nương tựa lẫn nhau, gắn kết chặt chẽ; môi không còn nữa thì răng sẽ thấy lạnh. Ví với hai quốc gia láng giềng hoặc đảng phái, tổ chức có quan lợi hại liên quan chặt chẽ, phụ thuộc lẫn nhau.
DANH NGÔN CÂU NÓI HAY
Nhân ai vô quá? Quá nhi năng cải, thiện mạc đại yên. —— 《Tả Truyện - Tuyên Công Nhị Niên》
Ai có thể không mắc sai lầm? Mắc sai lầm mà có thể sửa chữa thì không gì tốt bằng.
Đa hành bất nghĩa tất tự t斃 (diệt). —— 《Tả Truyện - Ẩn Công Nguyên Niên》
Làm nhiều việc xấu, chắc chắn sẽ tự chuốc lấy diệt vong.
Bì chi bất tồn, mao tương an phụ (Bì chi bất tồn, mao tương phụ trứ)? —— 《Tả Truyện - Hi Công Thập Tứ Niên》
Tồn: Tồn tại. Tương: Phó từ, lại. Yên: Ở đâu, nơi nào. Phụ: Bám vào, đính vào. Da không còn nữa thì lông bám vào đâu? Ví với con người hoặc sự vật mất đi nền tảng sinh tồn thì không thể tồn tại được.
Nhất cổ tác khí. —— 《Tả Truyện - Trang Công Thập Niên》
"Đánh trận dựa vào dũng khí. Đánh trống lần nhất sĩ khí lên cao, lần hai thì suy, lần ba thì cạn." Tác khí: Khởi động dũng khí. Nguyên chỉ tiếng trống đầu tiên chấn hưng sĩ khí, sau chỉ việc thừa lúc khí thế đang dâng cao mà hoàn thành tốt công việc.
TIẾT THỨ HAI: QUỐC NGỮ
Quốc Ngữ là tác phẩm lịch sử quốc biệt sớm nhất của Trung Quốc. Phạm vi ghi chép bắt đầu từ năm Chu Mục Vương thứ 12 (năm 990 TCN) Tây chinh Khuyển Nhung (khoảng năm 947 TCN), hạ đến sự kiện Trí Bách bị diệt (năm 453 TCN), bao gồm các hoạt động triều sính, yến xẩm, phúng gián, biện thuyết, ứng đối của quý tộc các nước cùng một số sự kiện lịch sử và truyền thuyết. Quốc Ngữ được sắp xếp theo thứ tự nhất định của từng nước. Về mặt nội dung thiên về ghi chép lời nói của các nhân vật lịch sử. Đây là đặc điểm lớn nhất về thể tài của Quốc Ngữ. So với Tả Truyện, các sự kiện ghi chép trong Quốc Ngữ phần lớn không nối tiếp nhau, đồng thời thiên về ghi chép lời nói, thường thông qua lời nói để phản ánh sự thực, dùng đối thoại giữa các nhân vật để khắc họa hình tượng nhân vật.
ĐỌC TUYỂN TẬP TÁC PHẨM
Triệu Công Gián Lệ Vương Bàng Báng
Lệ Vương bạo [1], quốc nhân báng Vương [2]. Triệu Công cáo viết [3]: "Dân bất堪 mệnh h矣 [4]!" Vương nỗ, đắc Vệ vu [5], sử giám báng giả. Dĩ cáo, tắc sát chi. Quốc nhân mạc cảm ngôn, đạo lộ dĩ mục.
Vương hỷ, cáo Triệu Công viết: "Ngô năng mị báng h矣 [6], nãi bất cảm ngôn."
Triệu Công viết: "Thị chướng chi dã [7]. Phòng dân chi khẩu,甚 ư phòng thương. Thương chướng nhi quấy, thương nhân tất đa, dân dĩ như chi. Thị cố vi thương giả quyết chi dĩ đạo [8], vi dân giả tuyên chi dĩ ngôn [9]. Cố Thiên tử thính chính [10], sử công khanh chí ư liệt sĩ hiến thi [11], mễ hiến khúc [12], sử hiến thư [13], sư gián [14], mưu赋 [15], mông tụng [16], bách công gián [17], thứ nhân truyền ngữ [18], cận thần tận quy, thân thích bổ sát [19], mễ, sử giáo hối, kỳ lão phụ chính, nhi hậu Vương mưu trác yên, thị dĩ sự hành nhi bất mị [21].
Dân chi hữu khẩu dã, do thổ chi hữu sơn thương dã, tài dụng ư thị xích xuất; do kỳ nguyên đầm chi hữu hốt ốc dã [22], y thực ư thị sinh. Khẩu chi tuyên ngôn dã, thiện bại ư thị h興 [23]. Hành thiện nhi備 bại, kỳ sở dĩ phụ tài dụng y thực giả dã [24]. Phu dân lự ư tâm nhi tuyên chi ư khẩu [25], thành nhi hành chi, hồ khả mị dã? Nhược mị [yǒng] kỳ khẩu, kỳ dữ năng kỷ hà [26]?"
Vương bất thính, vu thị quốc nhân mạc cảm xuất ngôn [27]. Tam niên [28], nãi lưu Vương vu Tr彘 [29].
(Chú thích)
[1] Lệ Vương: Chỉ Chu Lệ Vương, ông là con của Chu Di Vương, tên Hồ, tại vị 37 năm (năm 878 TCN — năm 842 TCN).
[2] Quốc nhân: Người sống ở kinh đô, ở đây chỉ bình dân bách tính.
[3] Triệu Công: Tên Hổ, là khanh sĩ thời Chu triều, thụy hiệu Mục Công. Triệu, còn viết là Mạc.
[4] Mệnh: Chỉ chính lệnh bạo ngược của Chu Lệ Vương.
[5] Vệ vu: Thầy cúng của nước Vệ. Vu: Người lấy nghề làm phép giả thần giả quỷ.
[6] Mị (mǐ): Tiêu trừ, dập tắt.
[7] Chướng: Bịt kín, đắp đập ngăn.
[8] Vi thương giả: Người trị thủy.
[9] Tuyên: Khai thông, tháo mở.
[10] Thiên tử: Danh xưng chỉ hoàng đế thời cổ đại.
[11] Công khanh: Chỉ đại thần chấp chính. Thời cổ có xưng hiệu Tam công Cửu khanh.
[12] Mễ (gǔ): Người mù. Thời cổ quan nhạc phần nhiều do người mù đảm nhận, nên cũng gọi quan nhạc là Mễ.
[13] Sử: Sử quan. Thư: Chỉ sách lịch sử.
[14] Sư: Thiếu sư, quan nhạc. Tụng: Một loại văn chương có tính quy phạm.
[15] Mễ (sōu): Người mù không có nhãn cầu. Phú: Đọc xướng theo tiết tấu.
[16] Mông (méng): Người mù có nhãn cầu. Mễ và Mông đều chỉ quan nhạc.
[17] Bách công: Tên chức quan thời Chu朝, quản lý các quan viên làm việc sản xuất chế tạo.
[18] Thứ nhân: Dân thường.
[19] Thân thích: Chỉ bà con nội ngoại của quân vương.
[20] Kỳ (qí) ngải: Người sáu mươi tuổi gọi là Kỳ, năm mươi tuổi gọi là Ngải, ở đây chỉ các thầy dỗ lâu năm, kinh nghiệm.
[21] Bội (bèi): Trái với đạo lý.
[22] Nguyên đầm (xí): Đất bằng phẳng và đầm lầy thấp.
[23] Hưng: Dấy lên, thể hiện ra.
[24] Trác: Phong phú.
[25] Phu (fú): Trợ từ đầu câu, không có nghĩa.
[26] Dữ: Trợ từ, không nghĩa. Ý câu là: "Người dân theo ngài còn có thể được bao nhiêu người?"
[27] Quốc nhân: Nguyên bản chữ "Quốc" dưới không có chữ "nhân", dựa vào bản khác bổ sung.
[28] Tam niên: Năm Chu Lệ Vương thứ 37 (năm 842 TCN) bị người dân trong nước đánh đuổi đến Tr彘, dựa vào đây Triệu Công gián Lệ Vương sự việc xảy ra vào năm 845 TCN.
[29] Lưu: Đày ải. Tr彘 (zhì): Tên đất, nay ở phía bắc Tây Huyện Tây Hoắc tỉnh Sơn Tây.
(Bản dịch văn xuôi) Chu Lệ Vương tàn bạo vô đạo, người dân trong nước đều chỉ trích ông. Triệu Báo báo cáo rằng: "Quần chúng nhân dân chịu không nổi nữa rồi." Lệ Vương rất tức giận, tìm đến thầy cúng nước Vệ, sai ông ta giám sát những người chỉ trích Thiên tử. Thầy cúng nước Vệ báo cáo xong liền giết chết họ. Từ đó người dân trong nước không ai dám nói chuyện, đi đường gặp nhau chỉ dùng ánh mắt để ra hiệu. Lệ Vương rất vui mừng, nói với Triệu Công: "Ta có thể ngăn cản sự phỉ báng rồi, những người này không dám nói nữa." Triệu Công nói: "Đây là ngài bịt miệng họ lại. Bịt miệng người dân, còn đáng sợ hơn việc đắp đập chặn dòng sông. Dòng sông nếu bị chặn lại mà vỡ bờ, người bị thương chắc chắn sẽ nhiều, bách tính cũng như vậy. Cho nên người trị thủy phải tháo đập khai thông, làm cho nước chảy thông suốt; người quản lý bách tính phải hướng dẫn bách tính nói ra. Cho nên, Thiên tử khi xử lý chính sự, phải để các quan chức dâng bài thơ dân ca, nhạc quan dâng dân ca điệu nhạc, sử quan dâng sách sử, quan Thiếu sư tiến gián ngôn, người mù ngâm thơ, người mù xướng ca, các loại quan thợ dâng lời can gián, bình dân bàn luận truyền tới cấp trên, cận thần hết lòng khuyên nhủ, thân tộc sửa chữa lỗi lầm, nhạc quan, sử quan thi hành giáo hóa, quan lớn trọng thần hết lòng giám sát, rồi sau Thiên tử mới cân nhắc chọn lựa, cho nên chính sự mới có thể thi hành mà không trái với tình lý. Bách tính có miệng để nói, giống như trên mặt đất có núi sông dòng chảy vậy, tiền tài của cải từ đây sinh ra; lại giống như trên mặt đất cao thấp trập trùng có đồng bằng ruộng tốt vậy, quần áo lương thực từ đây sản sinh ra. Môi miệng phản ánh chính sự tốt hay xấu, mới có thể làm tốt công việc mà ngăn ngừa việc xấu, mới có thể làm cho của cải phong phú, áo cơm đầy đủ. Quần chúng nhân dân suy nghĩ trong lòng mới bộc lộ ra ngoài miệng, đây là hành vi rất tự nhiên, sao có thể cưỡng ép cấm đoán? Nếu bịt miệng họ lại, thì còn có thể chống đỡ được bao lâu nữa?" Lệ Vương không nghe lời khuyên, thế là trong kinh đô không ai dám nói năng gì nữa, qua ba năm, người dân trong nước liền đuổi Lệ Vương đến đất Tr彘.
Vương Tôn Mãn Quan Tần Sư
Năm thứ hai mươi tư, Tần sư tương hại Trịnh, quá Chu bắc môn. Tả hữu giai mien giáp nhi hạ bái [1], siêu thừa [2] giả tam bách thừa. Vương Tôn Mãn quan chi, ngôn ư Vương viết: "Tần sư tất hữu trích [3]." Vương viết: "Hà cố?" Đối viết: "Sư khinh nhi kiêu, khinh tắc quả mưu, kiêu tắc vô lễ. Vô lễ tắc thoái [4], quả mưu tự hãm. Nhập hiểm nhi thoái, năng vô bại乎? Tần sư vô trích, thị đạo废 [5] dã." Thị hành dã [6], Tần sư hoàn [7], Tấn nhân bại chư Hào [8], hoạch kỳ tam suất [9] Bính, Thuật, Thù.
(Chú thích)
[1] Tả hữu giai mien giáp nhi hạ bái: Chỉ cởi mũ giáp ra chứ không cởi áo giáp mà bái vái, đây là hành vi thiếu lễ nghi. Tả hữu: Bờ trái xe, bờ phải xe. Mien: Mũ giáp, lễ thời cổ là "Sĩ mang giáp mũ thì không bái".
[2] Siêu thừa: Nhảy nhót lên xe, không có kỷ luật.
[3] Trích: Trách phạt, trừng phạt.
[4] Thoái: Khinh suất, coi thường, ở đây chỉ tùy tùy tiện tiện.
[5] Đạo废: Chỉ đạo lý truyền lại từ thời cổ đại bị bãi bỏ không đáng tin nữa.
[6] Thị hành dã: Lần hành động này. Thị: Đại từ chỉ định, điều này/lần này.
[7] Tần sư hoàn: Quân Tần vốn dĩ định tập kích nước Trịnh, thương nhân nước Trịnh là Huyền Cao giả vờ nhận lệnh quốc quân đến khao quân Tần. Quân Tần cho rằng nước Trịnh đã có chuẩn bị nên đành thu quân về nước.
[8] Tấn nhân bại chư Hào (xiáo): Quân Tấn đánh bại quân Tần ở khu vực núi Hào. Hào: Núi Hào, nằm trong lãnh thổ nước Tấn. Chư: Trợ từ kiêm chữ "Vu chi".
[9] Tam suất: Ba vị đại tướng của quân Tần, tức Bạch Bính, Tây Kỷ Thuật và M孟 Minh Thù.
(Bản dịch văn xuôi) Năm thứ hai mươi tư thời Chu Tương Vương, quân đội nước Tần đi tập kích nước Trịnh, đi qua cửa Bắc nhà Chu. Các võ sĩ trên xe đều cởi mũ giáp xuống xe hành lễ, sau đó nhún nhảy trèo lên xe, trước sau có tới ba trăm chiếc xe như vậy. Vương Tôn Mãn nhìn thấy cảnh đó liền nói với Chu Tương Vương: "Quân Tần chắc chắn sẽ thua trận." Chu Tương Vương hỏi: "Nguyên nhân là gì?" Vương Tôn Mãn đáp: "Quân Tần nhẹ nổi mà kiêu ngạo, nhẹ nổi thì thiếu mưu lược, kiêu ngạo thì vô lễ. Vô lễ thì không có kỷ luật...sinh. Tiên sinh bất xả [13], nãi hữu意 khắc vi quý phu tử tiết hồ [14]?" Phùng Huyên viết: "Nhuẫn chi." Vu thị ước xe trị trang [14], tải quan khuyết [15] nhi hành,辭 viết: "Trách tất thu, dĩ hà thị nhi phản [16]?" Mãnh Thường Quân viết: "Thị吾 gia sở quả hữu [17] giả."
Khu nhi chí Tiết, sử xướng triệu chư dân đương xả giả, tất lai hợp quan [18]. Quan biến hợp, khởi [19], kiều mệnh, dĩ quan tứ chư dân [20], nhân thiêu kỳ quan, dân xứng vạn tuế.
Trường khu [21] đáo Tề, thần nhi cầu kiến. Mạnh Thường Quân quái kỳ tật dã [22], y quán nhi kiến chi, viết: "Trách tất thu乎? Lai hà tật dã!" viết: "Thu biệt dã." "Dĩ hà thị nhi phản?" Phùng Huyên viết: "Quân chi 'Thị吾 gia sở quả hữu giả'. Thần kị kế [23], quân cung trung tích trân bảo, câu mã thực ngoại khuyết, mỹ nhân sung hạ trần [24], quân gia sở quả hữu giả, dĩ nghĩa ear! Thần kị dĩ vi quân thị nghĩa." Mạnh Thường Quân viết: "Thị nghĩa nại hà?" viết: "Kim quân hữu khu khu [25] chi Tiết, bất mông ái tử kỳ dân [26], nhân nhi giáp lợi chi [27]. Thần kị xướng quân mệnh, dĩ quan tứ chư dân, nhân thiêu kỳ quan, dân xứng vạn tuế. Nãi khu sở dĩ vi quân thị nghĩa dã." Mạnh Thường Quân bất duyệt, viết: "Nặc, tiên sinh nghỉ hĩ [28]!"
Hậu kỳ niên [29], Tề Vương vị Mạnh Thường Quân viết: "Quả nhân bất cảm dĩ tiên Vương chi thần vi thần [30]." Mạnh Thường Quân tựu quốc [31] vu Tiết, vị chí bách lý [32], dân phù lão攜 ấu, nghênh quân đạo trung chung nhật [33]. Mạnh Thường Quân cố [34] vị Phùng Huyên viết: "Tiên sinh sở vi văn thị nghĩa giả, nãi kim nhật kiến chi."
Phùng Huyên viết: "Xảo thố hữu tam huyệt, cận đắc免 kỳ tử ear; kim quân hữu nhất huyệt, vị đắc cao chẩm nhi ngoạ dã. Thỉnh vi quân phục doanh nhị huyệt." Mạnh Thường Quân dư vu xe ngũ thập thừa, kim ngũ bách cân, tây du vu Lương [35], vị Lương Vương viết: "Tề phóng kỳ đại thần Mạnh Thường Quân vu chư hầu [36], chư hầu tiên nghênh chi giả, phú nhi binh cường." Vu thị Lương Vương hư thượng vị [37], dĩ cố tướng [38] vi thượng tướng quân, khiển sứ giả hoàng kim thiên cân, xe bách thừa,往 sính Mạnh Thường Quân. Phùng Huyên tiên khu, giới Mạnh Thường Quân viết: "Thiên kim, trọng lễ dã; bách thừa, hiển sứ dã. Tề kỳ văn chi h矣." Lương sứ tam phản [39], Mạnh Thường Quân cố từ bất往.
Tề Vương văn chi, quân thần khủng hốt, khiển thái phó tống hoàng kim thiên cân, văn xe nhị tứ, phục kiếm [40] nhất, phong thư, tạ [41] Mạnh Thường Quân viết: "Quả nhân bất tường [42], bị vu tông miếu chi túng [43], trầm vu si siểm chi thần, khai tội vu quân. Quả nhân bất足 vi [44] dã; nguyện quân đố cố tiên Vương chi tông miếu, cô phản quốc thống vạn nhân乎 [45]!" Phùng Huyên giới Mạnh Thường Quân viết: "Nguyện thỉnh tiên Vương chi tế khí, lập tông miếu vu Tiết [46]." Miếu thành, hoàn báo Mạnh Thường Quân viết: "Tam huyệt dĩ tị, quân cô cao chẩm vi nhạc h矣."
Mạnh Thường Quân vi相 số thập niên, vô h纤 giới [47] chi họa giả, Phùng Huyên chi kế dã.
CHÚ THÍCH (Mở rộng từ các trang 1-2)
[1] Chú: Mộc thác, thỉnh thác.
[2] Tả hữu: Chỉ người làm việc bên cạnh Mạnh Thường Quân. Dĩ: Vì. Tiện: Bỉ tiện, coi thường, động từ hóa. Chi: Hắn/Ông ấy, thay cho Phùng Huyên. Thực (sì): Cho... ăn, "thực" sau lược bỏ tân ngữ "chi".
[3] Cư: Tạm trú, ở đây có nghĩa "trải qua". Hữu khoảnh: Không lâu. Đạn (tán): Dùng ngón tay búng/gõ.
[4] Dĩ cáo: Đem việc Phùng Huyên đạn kiếm hát báo lên Mạnh Thường Quân.
[5] Xe khách: Môn khách có thể đi xe. Mạnh Thường Quân chia môn khách thành 3 cấp: Thượng khách ăn cá đi xe; Trung khách ăn cá; Hạ khách ăn rau.
[6] Ố: Ghét. Dĩ vi: Cho rằng.
[7] Xuất ký: Ra thông cáo, ra văn thư.
[8] Tập: Quen thuộc. Kế hội: Công việc kế toán, nay chỉ kế toán. Vi: Cho tôi. Văn: Mạnh Thường Quân tự xưng tên mình. Trách: Thông với "Nợ" (Trái). Tiết: Lãnh địa của Mạnh Thường Quân, nay ở gần Táo Trang, Sơn Đông.
[9] Th署 viết "Năng": Ký tên lên thông cáo và ghi chú chữ "Năng" (Có thể).
[10] Quả: Phó từ, quả nhiên. Phụ: Có lỗi với. Chi: Hắn/Ông ấy, đại từ thay cho "Khách". Vị嘗: Phó từ kết hợp, chưa từng.
[11] M倦 vu sự: Vì việc nước vất vả. Quỹ (kuì) vu ưu: Khổ sở vì suy nghĩ đến mức tâm trí rối loạn. Nhoạn (nuò): Đồng nghĩa với "Nhuẫn", nhút nhát, yếu đuối.
[12] Khai tội: Đắc tội.
[13] Bất xả: Không vì bị xem thường mà cảm thấy nhục nhã. Xả: Ý động từ, cho rằng... là nhục nhã.
[14] Ước xe trị trang: Bị sẵn xe cộ, chuẩn bị hành lý.
[15] Khuyết khế: Khế ước vay nợ, hai bên mỗi bên giữ một bản để làm bằng chứng khi đối chiếu.
[16] Hà thị nhi phản: Mua thứ gì mang về? Thị: Mua. Phản: Trở về.
[17] Quả hữu: Ít có, thiếu sót.
[18] Hợp quan: Đối chiếu khế ước vay nợ.
[19] Biến hợp: Đều đã đối chiếu xong. Khởi: Đứng dậy.
[20] Kiều mệnh: Giả mạo mệnh lệnh (của Mạnh Thường Quân). Dĩ quan tứ chư dân: Đem khoản nợ ban tặng cho người dân vay nợ, ý nói không cần trả lại nữa. Dĩ: Dùng, lấy.
[21] Trường khu: Lái xe đi nhanh một mạch, không dừng lại giữa đường.
[22] Quái kỳ tật dã: Cảm thấy kỳ lạ vì ông ấy về quá nhanh.
[23] Trộm kế: Bản thân thầm nghĩ, lời nói khiêm tốn. Kế: Suy xét, tính toán.
[24] Hạ trần: Hàng ngũ phía sau.
[25] Khu khu: Nhỏ bé.
[26] Bất mông ái tử kỳ dân: Không thương yêu chăm sóc người dân. Tử kỳ dân: Xem dân như con, miêu tả sự đặc biệt yêu thương bách tính.
[27] Giáp lợi chi: Dùng thủ đoạn thương nhân để mưu lợi lớn từ bách tính.
[28] Thuyết: Đồng nghĩa với "Duyệt" (hài lòng). Hưu hĩ: Thôi đi, bỏ đi.
[29] Kỳ niên: Tròn một năm.
[30] Tề Vương: Tề Mẫn Vương. Tiên Vương: Chỉ Tề Tuyên Vương, cha của Tề Mẫn Vương.
[31] Tựu quốc: Đến phong địa của mình (đất Tiết) để ở.
[32] Vị chí bách lý: Cách đất Tiết còn khoảng một trăm dặm.
[33] Chính nhật: Nguyên một ngày trọn vẹn.
[34] Cố: Ngoảnh đầu lại nhìn.
[35] Lương: Kinh đô Đại Lương nước Ngụy (nay thuộc Khai Phong, Hà Nam). Nước Ngụy sau khi Ngụy Huệ Vương dời đô về Đại Lương thì quốc hiệu từng gọi là "Lương".
[36] Phóng: Ruồng bỏ, xua đuổi. Vu: Cho... cơ hội.
[37] Hư thượng vị: Để trống vị trí chức vụ cao nhất là Tể tướng.
[38] Cố tướng: Tể tướng trước đây.
[39] Phản: Đồng nghĩa với "Phản" (trở về/qua lại).
[40] Phục kiếm: Đeo kiếm.
[41] Tạ: Xin lỗi, tạ lỗi.
[42] Bất tường: Không tốt lành.
[43] Bị vu tông miếu chi túng: Bị thần linh tổ tiên trừng phạt.
[44] Bất足 vi: Không đáng để giúp đỡ. Túc: Đáng giá. Vi: Giúp đỡ, bảo vệ.
[45] Cố: Cố niệm, nhớ tới. Cô: Tạm thời. Phản quốc: Trở về thủ đô Lâm Tri nước Tề. Phản: Đồng nghĩa với "Phản" (trở về). Thống vạn nhân: Thống trị, quản lý nhân dân toàn quốc.
[46] Lập tông miếu vu Tiết: Mạnh Thường Quân cùng tộc với vua nước Tề, nên thỉnh xin tế khí truyền lại của tiên vương, dựng tông miếu ở đất Tiết, đây là diệu kế an thân do Phùng Huyên nghĩ ra cho Mạnh Thường Quân, là một trong "ba hang".
[47] Th纤 giới: Nhỏ bé, vô cùng nhỏ.
BẢN DỊCH VĂN XUÔI (Trang 3 & Trang 4)
Ở nước Tề có một người tên là Phùng Huyên, nghèo đến mức không thể tự nuôi sống bản thân, bèn nhờ người thỉnh cầu Mạnh Thường Quân, nói rằng mình nguyện ý ở trong nhà Mạnh Thường Quân làm môn khách. Mạnh Thường Quân hỏi: "Vị khách đó có sở thích gì?" Trả lời: "Ông ấy không có sở thích gì cả." Mới hỏi lại: "Vị khách đó có tài năng gì?" Trả lời: "Ông ấy không có tài năng gì cả." Mạnh Thường Quân mỉm cười rồi tiếp nhận ông ấy, nói: "Tốt rồi." Những người làm việc bên cạnh Mạnh Thường Quân vì thấy Mạnh Thường Quân coi nhẹ Phùng Huyên, bèn lấy đồ ăn thô sơ đãi ông ấy. Qua một thời gian, Phùng Huyên dựa vào cột nhà búng thanh kiếm của mình, hát rằng: "Thanh kiếm dài ơi, quay về thôi! Cơm ăn không có cá." Người làm việc đem tình hình này báo lên Mạnh Thường Quân, Mạnh Thường Quân nói: "Cho ông ấy ăn cá, đối xử theo tiêu chuẩn thực khách cửa hạ." Qua không lâu, Phùng Huyên lại búng kiếm hát: "Thanh kiếm dài ơi, quay về thôi! Ra ngoài không có xe." Người làm việc đều cười nhạo ông, rồi đem chuyện này báo với Mạnh Thường Quân. Mạnh Thường Quân nói: "Chuẩn bị xe cho ông ấy, đối xử theo tiêu chuẩn khách đi xe cửa trung." Thế là Phùng Huyên ngồi xe của mình, giơ kiếm lên đi thăm bạn bè, nói rằng: "Mạnh Thường Quân xem ta là thực khách thực sự." Không lâu sau, Phùng Huyên lại búng kiếm hát: "Thanh kiếm dài ơi, quay về thôi! Ở đây không thể nuôi sống gia đình!" Những người làm việc đều rất ghét ông, cho rằng ông một mực đòi hỏi không biết chán. Mạnh Thường Quân hỏi: "Phùng tiên sinh còn cha mẹ không?" Đáp: "Còn có một người mẹ già." Mạnh Thường Quân bèn sai người cấp phát đồ ăn thức uống cho bà, không để bà thiếu thốn thứ gì. Thế là Phùng Huyên không còn búng kiếm hát nữa.
Về sau Mạnh Thường Quân đưa ra một thông báo, hỏi các môn khách trong nhà: "Ai quen thuộc công việc kế toán, có thể thay ta đến đất Tiết thu nợ không?" Phùng Huyên ký tên lên thông cáo, viết rằng: "Tôi có thể." Mạnh Thường Quân xem xong cảm thấy kỳ lạ, hỏi: "Chữ ký này là của ai?" Người làm việc xung quanh nói: "Chính là người hát 'Thanh kiếm dài ơi, quay về thôi'." Mạnh Thường Quân mỉm cười nói: "Thực khách quả nhiên có tài năng, ta đã đối xử không phải với ông ấy, trước đây chưa từng tiếp kiến ông ấy." Mới đặc biệt mời Phùng Huyên đến gặp, xin lỗi ông rằng: "Tôi bị một số việc vụn vặt làm cho mệt mỏi, bị suy nghĩ phiền muộn làm cho tâm trí rối loạn, tính tình lại yếu đuối vụng về, đắm chìm trong việc nước, nên không thể gặp mặt tiên sinh, đã đắc tội với tiên sinh. Tiên sinh không lấy sự xơ xài của tôi làm nhục, lại còn có ý định thay tôi đến đất Tiết thu nợ sao?" Phùng Huyên nói: "Nguyện ý thay ngài làm việc này." Thế là chuẩn bị xe ngựa, thu dọn hành lý, chở theo văn thư khếu ước xuất phát. Lúc chào từ biệt, Phùng Huyên hỏi: "Tiền nợ thu đủ rồi, dùng nó mua thứ gì mang về?" Mạnh Thường Quân nói: "Xem trong nhà ta thiếu thứ gì thì mua thứ đó về."
Phùng Huyên đi xe đến đất Tiết, sai quan lại triệu tập những bách tính phải trả nợ đến để đối chiếu khế ước. Khế ước đều đã đối chiếu xong, Phùng Huyên đứng dậy, giả mạo mệnh lệnh của Mạnh Thường Quân, đem khoản tiền nợ ban tặng cho bách tính, lập tức đốt bỏ những khế ước đó. Bách tính reo hò tung hô vạn tuế.
Phùng Huyên không ngừng nghỉ lái xe quay về thủ đô nước Tề, sáng sớm đã xin vào gặp Mạnh Thường Quân. Mạnh Thường Quân cảm thấy kỳ lạ vì ông ấy về quá nhanh, ăn mặc chỉnh tề ra tiếp đón, hỏi: "Nợ thu xong rồi sao? Sao về nhanh vậy?" Đáp: "Thu xong rồi." Hỏi: "Dùng nó mua cái gì về?" Phùng Huyên nói: "Ngài nói 'Xem trong nhà thiếu thứ gì', tôi tự suy nghĩ, trong phủ ngài chất đầy trân bảo, chó săn và ngựa chiến đầy chuồng, mỹ nhân đứng đầy dưới đường, thứ nhà ngài thiếu chỉ là 'Nghĩa' mà thôi. Tôi tự ý dùng tiền nợ mua 'Nghĩa' cho ngài." Mạnh Thường Quân hỏi: "Mua Nghĩa là thế nào?" Đáp: "Nay ngài có một vùng đất Tiết nhỏ bé, không biết thương yêu người dân như con, ngược lại còn tranh lợi lớn từ bách tính. Tôi tự ý giả mạo lệnh ngài, đem tiền nợ tặng cho bách tính, lập tức đốt bỏ khế ước, bách tính reo hò tung hô vạn tuế, đây chính là cách tôi dùng để mua 'Nghĩa' cho ngài." Mạnh Thường Quân không vui, nói: "Được rồi, tiên sinh nghỉ ngơi đi!"
Một năm sau, Tề Vương nói với Mạnh Thường Quân: "Ta không cảm dĩ thần tử của Tiên Vương làm thần tử của ta." Mạnh Thường Quân đành đến phong địa đất Tiết của mình. Cách nơi đó còn khoảng một trăm dặm, bách tính đã dắt già cõng trẻ, đứng nghênh đón ông ở giữa đường suốt cả ngày. Mạnh Thường Quân ngoảnh lại nói với Phùng Huyên: "Đạo lý mua Nghĩa mà tiên sinh nói trước đây, hôm nay tôi mới được nhìn thấy." Phùng Huyên nói: "Con thỏ khôn ngoan có ba hang, mới chỉ thoát khỏi cái chết; nay ngài mới chỉ có một hang, chưa thể kê cao gối ngủ yên được. Xin hãy để tôi chuẩn bị thêm hai hang nữa cho ngài."
Mạnh Thường Quân giao cho Phùng Huyên 50 cỗ xe, 500 cân vàng, đi sang phía tây du thuyết nước Lương (Ngụy). Phùng Huyên nói với Lương Huệ Vương: "Nước Tề ruồng bỏ đại thần Mạnh Thường Quân ra các nước chư hầu, nước chư hầu nào đón tiếp ông ấy trước thì sẽ giàu có và quân đội mạnh mẽ." Thế là Lương Huệ Vương để trống vị trí Tể tướng, dời vị Tể tướng cũ làm Thượng tướng quân, sai sứ giả mang 1000 cân vàng, 100 cỗ xe, đi mời Mạnh Thường Quân. Phùng Huyên đánh xe đi trước, dặn dò Mạnh Thường Quân: "Ngàn cân vàng là lễ vật rất nặng, trăm cỗ xe là sứ tiết hiển hách. Nước Tề chắc chắn sẽ nghe được tin này." Sứ giả nước Lương đi lại ba lần, Mạnh Thường Quân kiên quyết từ chối không đi.
Vua Tề nghe được tin này, quân thần đều kinh hãi hoảng sợ, bèn sai Thái phó mang 1000 cân vàng, 2 cỗ xe xa hoa, 1 thanh kiếm đeo, viết thư xin lỗi Mạnh Thường Quân rằng: "Quả nhân không may mắn, bị thần linh tổ tiên giáng phạt, lại bị những thần tử nịnh hót mê hoặc, đắc tội với ngài. Quả nhân không đáng để ngài giúp đỡ; chỉ mong ngài nhớ tới tông miếu của Tiên Vương, tạm thời trở về cai trị nhân dân toàn quốc!"
Phùng Huyên nhắc nhở Mạnh Thường Quân: "Hy vọng ngài xin Tề Vương mang các tế khí do Tiên Vương truyền lại đến dựng tông miếu ở đất Tiết." Tông miếu dựng xong, Phùng Huyên quay về báo với Mạnh Thường Quân: "Ba hang đều đã chuẩn bị xong rồi, ngài có thể kê cao gối mà ngủ, an tâm hưởng lạc rồi!"
Mạnh Thường Quân làm Tể tướng mấy chục năm, không có một mống tai họa nhỏ nào, đều là nhờ mưu kế của Phùng Huyên.
ĐẠI SƯ ĐIỂM BÌNH (Trang 3)
Nghệ thuật kìm nén trước giương sau, chê trước khen sau đã tạo ra hiệu quả giật mình kinh ngạc, làm tăng thêm hình tượng bất凡 "Đại trí若 ngu" của Phùng Huyên. Cái hay của toàn bài viết chính là nét kỳ quan này. Không đi thẳng vào mục đích mà qua nhiều khúc ngoặt mới đi vào cảnh đẹp, làm tăng tính kịch cho văn xuôi lịch sử. Toàn văn trập trùng nhấp nhô, đặc biệt khéo dùng thủ pháp ảo thực, muốn giương phải nén, từng bước dụ người vào sâu, làm nổi bật tính cách nhân vật vô cùng sắc nét, không hổ là danh tác khắc họa hình tượng nhân vật.
—— Chu Thành Hoa. Trích từ 《Quan điểm Văn học Tiên Tần》[M]. Trường Xuân: Nhà xuất bản Đại học Cát Lâm, 2010.
THÀNH NGỮ ĐIỂN CỐ (Trang 3 & Trang 4)
1. Nhất Trần Bất Nhiễm
"Thánh nhân có cái đức của ba điều, mà không có cái lụy của một hạt bụi." Nay dùng để chỉ việc hoàn toàn không chịu ảnh hưởng của thói quen xấu, phong khí xấu. Cũng dùng để miêu tả môi trường rất sạch sẽ, tinh tươm.
2. Đại Đình Quảng Chúng
"Địch ở nơi đại đình quảng chúng." Đại đình: Sân bãi rộng lớn. Quảng chúng: Đám đông rất nhiều người. Chỉ nơi công cộng tập trung đông người.
3. Lưỡng Bại Câu Thương
"Nay hai con hổ tranh nhau đánh, con nhỏ chắc chắn chết, con lớn chắc chắn thương." Cả hai bên tranh đấu đều chịu tổn thất, không ai giành được lợi lộc.
4. Nam Viên Bắc Triệt
"Giống như muốn đi về phía nam nhưng bánh xe lại quay về phía bắc." Ví với hành động và mục đích hoàn toàn trái ngược nhau.
5. Vong Dương Bổ Lao
"Mất cừu rồi mới sửa chuồng cừu, chưa tính là muộn." Ví với việc sau khi xuất hiện vấn đề mới nghĩ cách khắc phục, sửa chữa, có thể ngăn ngừa tổn thất tiếp tục xảy ra.
6. Du蚌 Tương Tranh, Ngư Ông Đắc Lợi
"Con cò nói: 'Hôm nay không mưa, ngày mai không mưa, sẽ có con trai chết!' Con trai cũng nói: 'Hôm nay không ra, ngày mai không ra, sẽ có con cò chết.' Cả hai bên không chịu nhượng bộ, người đánh cá đến tóm gọn cả hai." Trong các cuộc tranh chấp phức tạp, nếu hai bên đối lập không nhường nhau thì bên thứ ba sẽ ngồi hưởng lợi. Cho nên trong cuộc sống cần phải nắm bắt mâu thuẫn chủ yếu, không thể vì cái nhỏ mà mất cái lớn.
7. Vũ Mao Vị Phong
"Quả nhân nghe nói, người lông cánh chưa đầy đủ thì không thể bay cao." Chỉ chim nhỏ chưa trưởng thành, lông trên người còn thưa thớt. Ví với tuổi đời còn trẻ, kinh nghiệm ít, chưa trưởng thành hoặc sức lực chưa đủ mạnh.
8. Dẫn Dùi Thích Đùi (Dẫn Thùy Thích Cổ)
"Đọc sách muốn buồn ngủ, lấy cái dùi tự đâm vào đùi mình, máu chảy đến chân." Thùy: Cái dùi. Cổ: Đùi. Đêm đọc sách buồn ngủ bèn lấy dùi tự đâm vào đùi để giữ tỉnh táo. Ví với việc khắc khổ cố gắng học tập.
9. Môn Đình Nhược Thị
"Lúc đầu ban lệnh, các thần sĩ đến dâng lời gián ngôn, trước cửa và trong sân đông đúc như chợ." Nguyên ý miêu tả người đến dâng lời gián ngôn rất đông, nay miêu tả người đến đông đúc, vô cùng nhộn nhịp.
10. Phản Phác Quy Chân
"Nhan Trực biết đủ thì nghỉ, trở về với cái mộc mạc nguyên bản, trọn đời không chịu nhục." Phác: Nghĩa gốc là đá chứa ngọc bên trong, cũng chỉ ngọc chưa qua chạm khắc, mở rộng nghĩa là thiên chân, chất phác. Rũ bỏ trang sức bên ngoài, khôi phục bản chất. Ví với việc trở về trạng thái tự nhiên ban đầu.
11. Xảo Thố Tam Huyệt
"Con thỏ khôn ngoan có ba hang, mới chỉ thoát khỏi cái chết. Nay ngài có một hang, chưa thể kê cao gối ngủ yên, xin hãy để tôi chuẩn bị thêm hai hang nữa cho ngài." Con thỏ khôn ngoan chuẩn bị nhiều hang để ẩn nấp. Ví với nơi ẩn nấp hoặc phương pháp bảo vệ bản thân có nhiều lựa chọn.
12. Hồ Giả Hổ Uy
"Hổ bắt được cáo, cáo nói: 'Ngươi không cảm ăn ta, Thiên đế sai ta làm chủ bách thú, ngươi nếu cho rằng ta nói dối, hãy đi phía sau ta, xem bách thú nhìn thấy ta có ai không bỏ chạy không?' Hổ cho là đúng, bèn đi cùng nó, bách thú nhìn thấy đều bỏ chạy, hổ không biết là thú sợ mình mà tưởng là sợ cáo." Ví với việc dựa vào thế lực của người khác để bắt nạt người khác.
13. Kinh Cung Chi Điểu
"Tiếng dây cung vang lên, làm kinh động con chim trong rừng rậm." Con chim bị tiếng tên làm cho sợ hãi thì không dễ trấn tĩnh. Ví với người từng trải qua hoảng sợ khi gặp phải một chút động tĩnh đã rất sợ hãi.
14. An Bộ Đương Xe
"Ăn muộn coi như ăn thịt, đi thong thả coi như đi xe, không phạm tội coi như quý tộc, thanh tĩnh tự giữ mình." An: Thong thả, không vội vã. An bộ: Đi thong thả. Đi bộ một cách thong dong thay cho việc ngồi xe.
15. Bất Diệt Dư Lực
"Cuộc tấn công của nước Tần vào ta không để thừa chút sức lực nào, chắc chắn sẽ đem hết sức mà quay về." Dư: Để lại. Dư lực: Sức lực còn lại. Dùng toàn bộ sức lực làm việc, không giữ lại chút nào.
16. Bất Dực Nhi Phi
"Lời người ta đồn đại, không có cánh mà bay." Dực: Cánh. Không có cánh mà lại bay đi mất. Ví với vật phẩm đột nhiên biến mất; cũng ví với tin tức lan truyền rất nhanh.
17. Cao Chẩm Vô Ưu
"Sự Tần, thì Sở Hàn không dám động, không có tai họa từ Sở Hàn thì đại vương kê cao gối mà nằm, nước chắc chắn không có lo lắng gì." Ưu: Lo lắng. Kê cao gối ngủ yên, không lo không nghĩ. Ví với bình an vô sự, không cần lo lắng; cũng ví với việc lơ là cảnh giác.
18. Hãn Mã Công Lao
"Không tốn công sức hãn mã, không tốn mười ngày." Hãn mã: Ngựa chạy đổ mồ hôi, ví với sự vất vả trong chiến tranh. Nguyên chỉ công lao to lớn lập được trong chiến tranh. Nay chỉ công lao to lớn nói chung.
19. Họa Xà Thêm Túc (Họa Xà Thêm Chân)
"Rắn vốn không có chân, anh tự làm ra vẻ có thể vẽ chân cho nó, lại làm mất tô rượu..." Vẽ rắn lại vẽ thêm chân cho nó. Ví với việc làm những chuyện thừa thai, chẳng những vô ích mà còn không thỏa đáng.
CHƯƠNG BỐN: TẢN VĂN CHƯ TỬ VÀ SỞ TỪ
Tản văn Chư Tử được hình thành và phát triển phồn vinh trong bối cảnh sự thức tỉnh tinh thần lý tính thời Tiên Tần và bầu không khí học thuật "Bách gia tranh minh". Phát triển của tản văn Chư Tử nhìn chung trải qua ba giai đoạn:
I. Giao thời Xuân Thu - Chiến Quốc: Đại biểu là 《Luận Ngữ》, 《Mặc Tử》, 《Lão Tử》
《Luận Ngữ》: Dưới hình thức ngữ lục ghi chép lời nói và hành vi của Khổng Tử cùng các đệ tử, phản ánh khá tập trung tư tưởng và hoạt động của Nho gia thời kỳ đầu.
《Mặc Tử》: Là tập hợp các tác phẩm của Mặc Tử và các hậu học, phản ánh tư tưởng của tiểu sản xuất do học phái Mặc gia đại diện. Đặc điểm nghệ thuật là văn chất ý hiển, giàu tính lô-gích.
《Lão Tử》: Về cơ bản là tác phẩm của Lão Tử — người sáng lập Đạo gia. Tác phẩm kết hợp giữa tư biện triết học huyền diệu sâu sắc và ngôn ngữ như thơ tinh妙, thể hiện phong cách nghệ thuật độc đáo.
II. Giữa thời Chiến Quốc: Đại biểu là 《Mạnh Tử》, 《Trang Tử》
《Mạnh Tử》: Là tác phẩm của Mạnh Tử và các đệ tử, phản ánh diện mạo tư tưởng Nho gia giữa thời Chiến Quốc. Tản văn 《Mạnh Tử》 thể hiện sự chuyển biến từ thể ngữ lục sang luận văn chuyên đề, thành tựu văn học nổi bật nằm ở nghệ thuật biện luận cao siêu.
《Trang Tử》: Là tác phẩm của Trang Chu và các hậu học, cũng là một kinh điển khác của Đạo gia. Tác phẩm có tạo hình nghệ thuật độc đáo vang danh trong chư tử Tiên Tần, cấu tứ kỳ diệu, ngôn ngữ cuồn cuộn phóng khoáng, phong cách lãng mạn, đều thể hiện vị trí độc tôn và thành tựu văn học rực rỡ trong tản văn Chư Tử.
III. Cuối thời Chiến Quốc: Đại biểu là 《Tuân Tử》, 《Hàn Phi Tử》, 《Lã Thị Xuân Thu》
《Tuân Tử》: Phần lớn do Tuân Tử tự sáng tác, hệ thống tư tưởng bác đại tinh sâu, là sự phát triển hơn nữa của Nho học. Văn phong đa phần kết quả chặt chẽ, luận thuyết chu toàn dưới dạng luận văn chuyên đề, đánh dấu tản văn thuyết lý Tiên Tần bước vào giai đoạn hoàn toàn chín muồi.
《Hàn Phi Tử》: Là tác phẩm đại thành của tư tưởng Pháp gia, văn phong sắc bén tuốt trần, chất phác không hoa mỹ, thể hiện đặc sắc cơ bản của văn chương Pháp gia.
《Lã Thị Xuân Thu》: Là sáng tác tập thể do môn khách của Lã Bất Vi soạn thảo, thể chế hoành đại, nội dung phong phú bác tạp, kiêm thu tịnh súc, là một cuộc tổng kết quy mô lớn đối với tư tưởng học thuật Tiên Tần, đồng thời có tính văn học khá mạnh.
TIẾT THỨ NHẤT: LUẬN NGỮ
《Luận Ngữ》 do đệ tử và đệ tử tái truyền của Khổng Tử biên soạn mà thành, đến thời Tây Hán mới thành sách. Tác phẩm chủ yếu ghi chép lời nói và hành vi của Khổng Tử cùng các đệ tử, phản ánh tập trung tư tưởng của Khổng Tử, là một trong những tác phẩm kinh điển của học phái Nho gia. Lấy thể ngữ lục làm chính, tự sự làm phụ, tập trung thể hiện chủ trương trị quốc, tư tưởng đạo đức, quan niệm đạo đức và nguyên tắc giáo dục của Khổng Tử. Tác phẩm cùng với 《Đại Học》, 《Trung Dung》, 《Mạnh Tử》 được gọi chung là "Tứ Thư", bốn cuốn này cùng với 《Thi》, 《Thư》, 《Lễ》, 《Dịch》, 《Xuân Thu》 ("Ngũ Kinh") hợp lại gọi là "Tứ Thư Ngũ Kinh".
Khổng Tử (551 TCN - 479 TCN), họ Khổng tên Khâu, tự Trọng Ni, sinh tại ấp Ni Cung, nước Lỗ (nay thuộc thị trấn Ni Sơn, thành phố Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông), là nhà tư tưởng, nhà chính trị, nhà giáo dục nổi tiếng cuối thời Xuân Thu. Tương truyền ông có 3.000 đệ tử, người hiền tài có 72 người, từng dẫn một bộ phận đệ tử chu du các nước. Tư tưởng của Khổng Tử có ảnh hưởng vô cùng sâu rộng đến thế hệ sau.
TÁC PHẨM TUYỂN ĐỌC
(Một)
Nguyên văn: 子曰:“学而时习之,不亦说乎?有朋自远方来,不亦乐乎?人不知而不愠,不亦君子乎?”
Chú thích:
[1] Tử (子): Thời Trung Quốc cổ đại là xưng hiệu tôn kính dành cho nam giới có địa vị, có học vấn; đôi khi cũng xưng chung cho nam giới. Trong cuốn 《Luận Ngữ》, chữ "Tử viết" đều chỉ Khổng Tử.
[2] Học (学): "Học" mà Khổng Tử nói ở đây chủ yếu chỉ việc học tập các điển tịch văn hóa truyền thống như Lễ, Nhạc, Thi, Thư thời Tây Chu.
[3] Thời tập (时习): Thời Tiên Tần, chữ "thời" dùng làm phó từ, có nghĩa là "vào thời điểm nhất định" hoặc "vào thời điểm thích hợp". Nhưng Chu Hi trong 《Luận Ngữ Tập Chú》 giải thích "thời" là "thường xuyên". "Tập" nghĩa là ôn tập lễ, nhạc, luyện tập thi, thư, cũng mang nghĩa ôn lại, thực hành, luyện tập.
[4] Duyệt (说/yuè): Đồng nghĩa với "Duyệt" (悦), nghĩa là vui vẻ, hân hoan.
[5] Bằng (朋): Bản gốc là "Hữu bằng" (友朋). Thuyết cũ nói "đồng môn viết bằng", tức những người cùng học dưới sự dạy dỗ của một người thầy, ở đây chỉ người cùng chí hướng.
[6] Lạc (乐): Có sự khác biệt với "Duyệt". Thuyết cũ nói: Duyệt là vui ở trong lòng, Lạc là biểu hiện niềm vui ra bên ngoài.
[7] Nhân bất tri (人不知): Câu này không đầy đủ, khuyết tân ngữ, không nói rõ người khác không biết cái gì. Nói chung, "tri" nghĩa là hiểu rõ. "Nhân bất tri" nghĩa là người khác không hiểu mình.
[8] Uẩn (愠/yùn): Oán giận, tức giận.
[9] Quân tử (君子): "Quân tử" trong 《Luận Ngữ》 có lúc chỉ người có đạo đức, có lúc chỉ người có địa vị. Ở đây chỉ người có nhân cách cao thượng trong lý tưởng của Khổng Tử.
Dịch văn: Khổng Tử nói: "Học tập rồi thường xuyên ôn luyện, thực hành, chẳng phải rất vui vẻ sao? Có người cùng chí hướng từ phương xa tìm đến, chẳng phải rất hân hoan sao? Người khác không hiểu mình mà mình không oán giận, giận dỗi, chẳng phải cũng là một người quân tử có đạo đức sao?"
(Hai)
Nguyên văn: 子曰:“巧言令色,鲜矣仁。”
Chú thích:
[1] Xảo ngôn lệnh sắc (巧言令色): Chu Hi chú giải: "Hảo kỳ ngôn, thiện kỳ sắc, trí饰 vu ngoại, vụ dĩ thuyết nhân." Xảo và lệnh đều có nghĩa là tốt đẹp. Nhưng ở đây nên giải thích là dáng vẻ giả tạo, làm ra vẻ mặt vui vẻ xảo ngôn.
[2] Tiên (鲜): Ít.
Dịch văn: Khổng Tử nói: "Lời nói hoa mỹ ngon ngọt, làm ra vẻ mặt vui vẻ giả tạo, người như vậy thì lòng nhân từ rất ít vậy."
(Ba)
Nguyên văn: 曾子曰:“吾日三省吾身:为人谋而不忠乎?与朋友交而不信乎?传不习乎?”
Chú thích:
[1] Tăng Tử (曾子): Họ Tăng tên Sâm, tự Tử Dư, sinh năm 505 TCN, người nước Lỗ, là hậu duệ của quý tộc nước Tương bị nước Lỗ diệt vong. Tăng Tử là học trò đắc ý của Khổng Tử, nổi tiếng vì lòng hiếu thảo. Tương truyền cuốn 《Hiếu Kinh》 do ông biên soạn.
[2] Tam tỉnh (三省/xǐng): Tỉnh nghĩa là kiểm tra, xem xét. "Tam tỉnh" có vài cách giải thích: Một là kiểm tra ba lần; Hai là kiểm tra từ ba phương diện; Ba là kiểm tra nhiều lần. Thời cổ đại, việc thêm con số trước động từ chỉ hành động thường thể hiện tần suất hành động cao.
[3] Trung (忠): Thuyết cũ chú giải: Dốc hết sức mình gọi là trung. Ở đây chỉ đối xử với người khác nên dốc hết sức lực.
[4] Tín (信): Thuyết cũ chú giải "Tín giả, thành dã", tức giữ lời hứa chân thành. Yêu cầu con người giữ uy tín lẫn nhau theo quy định của Lễ để điều chỉnh mối quan hệ giữa người với người.
[5] Truyền (传): Thuyết cũ chú giải: "Thầy truyền dạy cho mình gọi là truyền". "Tập" giống như chữ "Tập" trong "học nhi thời tập之", chỉ ôn luyện, thực hành, diễn tập.
Dịch văn: Tăng Tử nói: "Mỗi ngày tôi tự xét lại bản thân nhiều lần: Mưu tính việc giúp người khác đã dốc hết sức chưa? Tương giao với bạn bè đã giữ lời hứa chân thành chưa? Học nghiệp thầy truyền dạy đã ôn tập thực hành chưa?"
(Bốn)
Nguyên văn: 子曰:“弟子入则孝,出则弟,谨而信,泛爱众,而亲仁,行有余力,则以学文。”
Chú thích:
[1] Đệ tử (弟子): Thường có hai nghĩa: Một là người nhỏ tuổi, làm em hoặc làm con; Hai là chỉ học sinh. Ở đây dùng nghĩa thứ nhất.
[2] Nhập (入): Thời cổ đại cha con ở riêng tại các nơi khác nhau, việc học ở ngoài phòng ở. 《Lễ Ký - Nội Tắc》: "Do sĩ dĩ thượng, phụ tử giai dị quan." "Nhập" là vào phòng ở của cha, chỉ khi ở nhà.
[3] Xuất (出): Đối lập với "Nhập", chỉ ra ngoài bái sư học tập. Ra ngoài là nói phải dùng đạo làm em để đối xử với sư trưởng, cũng chỉ chung người lớn tuổi hơn mình.
[4] Cẩn (谨): Ít nói, thận trọng trong lời nói.
[5] Phiếm (泛): Rộng rãi.
[6] Nhân (仁): Người có lòng nhân, người có đức nhân.
[7] Hành hữu dư lực (行有余力): Chỉ có thời gian nhàn rỗi sau khi thực hành các điều trên.
[8] Văn (文): Văn tịch cổ đại, chủ yếu là tri thức văn hóa như Thi, Thư, Lễ, Nhạc.
Dịch văn: Khổng Tử nói: "Các con em khi ở nhà thì phải hiếu thảo với cha mẹ, khi ra ngoài phải kính trọng người lớn tuổi, lời nói việc làm phải cẩn trọng giữ uy tín, yêu thương rộng rãi mọi người, lại gần gũi với những người có đức nhân. Sau khi thực hành được những điều đó mà còn dư sức lực, thì hãy dùng để học tập tri thức văn hóa."
(Năm)
Nguyên văn: 子夏曰:“贤贤易色;事父母,能竭其力;事君,能致其身;与朋友交,言而有信。虽曰未学,吾必谓之学矣。”
Chú thích:
[1] Tử Hạ (子夏): Họ Bốc tên Thương, tự Tử Hạ, là học trò của Khổng Tử, nhỏ hơn Khổng Tử 44 tuổi, sinh năm 507 TCN. Sau khi Khổng Tử qua đời, ông tuyên truyền chủ trương tư tưởng của Khổng Tử tại nước Ngụy.
[2] Hiền hiền (贤贤): Chữ "Hiền" thứ nhất dùng như động từ, nghĩa là tôn trọng. Hiền hiền nghĩa là tôn trọng người hiền tài.
[3] Dịch (易): Một là nghĩa thay đổi, câu này nghĩa là vì tôn trọng người hiền mà thay đổi lòng háo sắc; Hai là nghĩa coi nhẹ, tức coi trọng đức hạnh của người hiền mà coi nhẹ nữ sắc.
[4] Trí kỳ thân (致其身): Trí nghĩa là "dâng hiến", "dốc hết". Ý nói đem tính mạng dâng hiến cho quân chủ.
Dịch văn: Tử Hạ nói: "Một người có thể coi trọng đức hạnh của người hiền mà coi nhẹ nữ sắc; phụng dưỡng cha mẹ có thể dốc hết sức lực; thờ phụng quân chủ có thể dâng hiến cả tính mạng mình; giao tiếp với bạn bè nói lời giữ lời hứa. Người như vậy, dù cho bản thân ông ta nói chưa từng học hành, tôi nhất định vẫn nói ông ta đã là người học hành rồi."
(Sáu)
Nguyên văn: 曾子曰:“慎终追远,民德归厚矣。”
Chú thích:
[1] Thận chung (慎终): Người chết gọi là "chung". Ở đây chỉ sự qua đời của cha mẹ. Thuyết cũ chú giải: "Thận chung giả tang tận kỳ ai", tức cẩn trọng chu đáo làm tròn lễ tang với niềm thương xót tận cùng.
[2] Truy viễn (追远): Truy niệm tổ tiên xa xưa. Thuyết cũ chú giải: "Truy viễn giả tế tận kỳ kính", tức cúng tế tổ tiên với sự thành kính tận cùng.
Dịch văn: Tăng Tử nói: "Đối với sự qua đời của cha mẹ làm tròn lễ tang đau thương, truy niệm cúng tế tổ tiên xa xưa với sự thành kính, thì phong khí đạo đức của bách tính tự nhiên sẽ ngày càng trung hậu thâm trầm."
(Bảy)
Nguyên văn: 子禽问于子贡曰:“夫子至于是邦也,必闻其政,求之与?抑与之与?”子贡曰:“夫子温、良、恭、俭、让以得之。夫子之求之也,其诸异乎人之求之与?”
Chú thích:
[1] Tử Cầm (子禽): Họ Trần tên Kháng, tự Tử Cầm. Trịnh Huyền chú giải 《Luận Ngữ》 nói ông là học trò Khổng Tử, nhưng 《Sử Ký - Trọng Ni Đệ Tử 列传》 không ghi chép người này, nên có thuyết nói Tử Cầm không phải học trò Khổng Tử.
[2] Tử Cống (子贡): Họ Đoan Mộc tên Tứ, tự Tử Cống, người nước Vệ, nhỏ hơn Khổng Tử 31 tuổi, là đệ tử Khổng Tử, sinh năm 520 TCN. Tử Cống giỏi biện luận, Khổng Tử cho rằng ông có thể làm Tể tướng nước lớn. Theo 《Sử Ký》 ghi chép, Tử Cống làm thương nhân ở nước Vệ, gia tài ngàn vàng, trở thành nhà kinh doanh nổi tiếng.
[3] Phu tử (夫子): Xưng hiệu tôn kính thời cổ đại, ai từng làm Đại phu đều có thể nhận xưng hiệu này. Khổng Tử từng làm Tư khấu nước Lỗ, nên các đệ tử xưng hô ông là Phu tử. Về sau沿 tập dùng để xưng hô người thầy.
[4] Bang (邦): Chỉ các quốc gia chư hầu cắt cứ thời đó.
[5] Ức (抑): Liên từ văn ngôn thể hiện sự lựa chọn, nghĩa là "hay là", "hoặc là".
[6] Ôn, Lương, Cung, Kiệm, Nhượng (温、良、恭、俭、让): Hiểu theo nghĩa đen là "ôn hòa, thiện lương, cung kính, tiết kiệm, khiêm nhường". Đây là sự tán dương của đệ tử dành cho Khổng Tử.
[7] Kỳ chư (其诸): Ngữ khí từ, nghĩa là "có lẽ", "phải chăng".
Dịch văn: Tử Cầm hỏi Tử Cống rằng: "Thầy Khổng đi đến một quốc gia, luôn nghe hỏi về chính sự của quốc gia đó, là do thầy tự mình cầu xin, hay là quốc quân nước đó chủ động hỏi thầy vậy?" Tử Cống nói: "Thầy dùng thái độ ôn hòa, thiện lương, cung kính, tiết kiệm, khiêm nhường để có được điều đó. Cách cầu xin của thầy, có lẽ khác hẳn với cách cầu xin của người khác chăng?"
(Tám)
Nguyên văn: 有子曰:“礼之用,和为贵。先王之道,斯为美。小大由之,有所不行。知和而和,不以礼节之,亦不可行也。”
Chú thích:
[1] Lễ (礼): Thời Xuân Thu, "Lễ" chỉ chung chế độ điển chương và quy phạm đạo đức của xã hội chiếm hữu nô lệ. "Lễ" của Khổng Tử vừa chỉ Lễ, Nhạc, Nghi thức thời Chu, vừa chỉ quy phạm đạo đức của con người.
[2] Hòa (和): Điều hòa, hòa hợp, hài hòa.
[3] Tiên Vương chi đạo (先王之道): Chỉ đạo trị quốc thời cổ đại của các đế vương như Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn, Võ, Chu Công.
[4] Tư (斯): Chữ này, ý này. Ở đây chỉ "Lễ", cũng chỉ "Hòa".
Dịch văn: Hữu Tử nói: "Sự ứng dụng của Lễ, lấy hòa hợp làm quý. Phương pháp trị quốc của các bậc minh vương thời cổ đại, điểm đáng quý chính là ở đây. Nhưng cho dù việc lớn việc nhỏ đều làm theo đó, vẫn có chỗ không hành thông được. Chỉ biết đến sự hòa hợp mà vì hòa hợp một cách mù mút, không dùng Lễ để tiết chế và điều hòa nó, thì cũng không thể hành thông được."
(Chín)
Nguyên văn: 子曰:“君子食无求饱,居无求安,敏于事而慎于言,就有道而正焉,可谓好学也已。”
Chú thích:
[1] Tựu (就): Tiếp cận, nhìn vào, làm cho bằng.
[2] Hữu đạo (有道): Chỉ người có đạo đức cao thượng.
[3] Chính (正): Điều chỉnh cho đúng, uốn nắn.
Dịch văn: Khổng Tử nói: "Người quân tử không dốc sức đuổi theo sự ăn uống no đủ và môi trường sống an dật, mà là nỗ lực làm việc chăm chỉ, cẩn trọng trong lời nói, lại có thể chủ động tìm đến những người có đạo đức cao thượng để xin chỉ dẫm uốn nắn bản thân, như vậy có thể coi là người hiếu học rồi."
(Mười)
Nguyên văn: 子贡曰:“贫而无谄,富而无骄,何如?”子曰:“可也。未若贫而乐,富而好礼者也。”子贡曰:“《诗》云:‘如切如磋,如琢如磨’,其斯之谓与?”子曰:“赐也,始可与言《诗》已矣,告诸往而知来者。”
Dịch văn (Sơ lược phần cuối): Tử Cống hỏi: "Nghèo mà không nịnh hót, giàu mà không kiêu ngạo, như thế nào?" Khổng Tử nói: "Cũng được đấy. Nhưng chưa bằng nghèo mà vẫn vui vẻ với đạo, giàu mà vẫn yêu thích giữ Lễ." Tử Cống nói: "Trong 《Kinh Thi》 có câu: 'Như cắt như gọt, như dũa như mài', phải chăng là chỉ điều này?" Khổng Tử khen: "Tứ à, bây giờ mới có thể cùng trò đàm luận 《Kinh Thi》 được rồi, nói cho trò điều đã qua mà trò đã biết suy ra điều sắp tới."
CHÚ THÍCH & DỊCH VĂN LUẬN NGỮ (TẾP THEO)
Chú thích (tiếp mục 10 - Bài X)
[1] 谄 (chǎn): Ý là nịnh hót, phụng hờn.
[2] 何如 (hế rú): Cụm từ "Hà như" trong 《Luận Ngữ》 đều có thể dịch là "như thế nào".
[3] 贫而乐 (bần nhi lạc): Có bản chép là "Bần nhi lạc đạo" (nghèo mà vui với đạo).
[4] 如切如磋,如琢如磨: Hai câu này trích từ 《Kinh Thi - Vệ Phong - Kỳ Úc》. Có hai cách giải thích: Một là cắt, xoa, gọt, dũa chỉ việc chế tác 4 loại nguyên liệu khác nhau là xương, ngà vương, ngọc, đá, nếu không chế tác thì không thành dụng cụ; Hai là chế tác ngà và xương, cắt rồi lại xoa; chế tác ngọc và đá, gọt rồi lại dũa, mang ý nghĩa tinh益求精 (đã tốt lại càng muốn tốt hơn).
[5] 赐 (Tứ): Tên của Tử Cống, Khổng Tử đối với học trò thường gọi bằng tên.
[6] 告诸往而知来者: "Chư" đồng nghĩa với "Chi". "Vãng": chuyện đã qua. "Lai": chuyện tương lai.
Dịch văn
Tử Cống nói: "Nghèo mà không nịnh hót, giàu mà không kiêu ngạo, như thế nào?" Khổng Tử nói: "Cũng được rồi, nhưng chưa bằng nghèo mà vẫn vui với đạo, giàu mà vẫn khiêm nhường giữ lễ." Tử Cống nói: "Trong 《Kinh Thi》 có câu: 'Như đối xử với xương, sừng, ngà, đá vậy, trước tiên cắt ra, rồi dũa phẳng, xoa mịn, sau đó mài bóng', chính là có ý này phải không?" Khổng Tử nói: "Tứ à, bây giờ mới có thể cùng trò thảo luận 《Kinh Thi》 rồi, nói cho trò một điều, trò đã có thể tự phát huy, suy một ra ba."
DANH NGÔN CÂU CÚ (TRÍCH LUẬN NGỮ)
Về Đạo đức
Tử viết: "Gốt chí ư Nhân, vô ác dã." (Khổng Tử nói: Nếu quyết chí hướng về điều Nhân thì không làm điều xấu.)
Quân tử vô chung thực chi gian vi Nhân, tạo thứ tất ư thị, điên bái tất ư thị. (Người quân tử không lúc nào rời bỏ điều Nhân, dù vội vã hay lưu lạc cũng đều ở trong điều Nhân.)
Nhân viễn hồ tai? Ngã dục Nhân, tư Nhân chí hĩ. (Điều Nhân há ở xa sao? Ta muốn điều Nhân thì điều Nhân liền đến.)
Trí giả bất hoặc, Nhân giả bất ưu, Dũng giả bất懼. (Người trí không nghi ngờ, người nhân không lo lắng, người dũng không sợ hãi.)
Hữu đức giả tất hữu ngôn; hữu ngôn giả bất tất hữu đức. Nhân giả tất hữu dũng; dũng giả bất tất hữu nhân.
Chí sĩ Nhân nhân, vô cầu sinh dĩ hại Nhân, hữu sát thân dĩ thành Nhân.
Đương Nhân bất nhượng ư sư. (Trước điều Nhân thì không nhường cả thầy giáo.)
Vụ dân chi nghĩa, kính quỷ thần nhi viễn chi, khả vị trí hĩ.
Quân tử khả khi dã, bất khả võng dã.
Khắc kỷ phục lễ vi Nhân. (Kiềm chế bản thân, trở về với Lễ chính là Nhân.)
Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân. Tại bang vô oán, tại gia vô oán. (Điều mình không muốn thì đừng làm cho người khác...)
Ái nhân, tri nhân, cử直 thác chư枉, năng sử枉 giả直.
Cư xứ cung, chấp sự kính, dữ nhân trung, tuy chi di địch, bất khả khí dã.
Khắc, phạt, oán, dục bất hành yên, khả dĩ vi Nhân hĩ.
Sĩ dục thiện kỳ sự, tất tiên lợi kỳ khí; cư thị bang dã, sự kỳ đại phu chi hiền giả, hữu kỳ sĩ chi nhân giả.
Khổng Tử viết: "Năng hành ngũ giả ư thiên hạ, vi Nhân hĩ." Thỉnh vấn chi. Viết: Cung, khoan, tín, mẫn, huệ...
TRANG 2: DANH NGÔN CÂU CÚ (TIẾP THEO)
Về Tu dưỡng
Quân tử vô sở tranh. (Người quân tử không tranh giành với ai.)
Nội tỉnh bất tật, phu hà ưu hà懼. (Tự xét lòng không hổ nấy, thì có gì phải lo, có gì phải sợ?)
Tử viết: Quân tử thành nhân chi mỹ, bất thành nhân chi ác. Tiểu nhân phản thị. (Quân tử vun vén cái đẹp cho người, không vun vén cái xấu. Tiểu nhân thì ngược lại.)
Quân tử hòa nhi bất đồng, tiểu nhân đồng nhi bất hòa. (Quân tử hòa hợp mà không hùa theo, tiểu nhân hùa theo mà không hòa hợp.)
Quân tử thái nhi bất kiêu, tiểu nhân kiêu nhi bất thái.
Tu kỷ dĩ kính, tu kỷ dĩ an nhân, tu kỷ dĩ an bách tính.
Quân tử nghĩa dĩ vi chất, lễ dĩ hành chi, tốn dĩ xuất chi, tín dĩ thành chi, quân tử tai!
Quân tử bệnh vô năng yên, bất bệnh nhân chi bất kỷ知 dã.
Quân tử mưu đạo bất mưu thực, ưu đạo bất ưu bần. (Quân tử mưu tìm đạo không mưu tìm thức ăn, lo cho Đạo chứ không lo cái nghèo.)
Úy thiên mệnh, úy đại nhân, úy thánh nhân chi ngôn.
Khổng Tử viết: Quân tử hữu cửu tư: thị tư minh, thính tư thông, sắc tư ôn, mạo tư cung, ngôn tư trung, sự tư kính, nghi tư vấn, phẫn tư nan, kiến kiến tư nghĩa. (Quân tử có 9 điều suy nghĩ: nhìn rõ, nghe thông, sắc mặt ôn hòa, diện mạo cung kính, lời nói trung thực, làm việc cẩn trọng, nghi ngờ biết hỏi, giận dữ nghĩ hậu quả, thấy lợi nghĩ đến nghĩa.)
Về Lễ Nhạc
Hưng ư Thi, lập ư Lễ, thành ư Nhạc.
Bất học Thi, vô dĩ ngôn; bất học Lễ, vô dĩ lập. (Không học Kinh Thi thì không biết cách nói năng; Không học Lễ thì không biết cách lập thân.)
Tử viết: Thi tam bách, nhất ngôn dĩ tế chi, viết: Tư vô tà. (Thi Kinh ba trăm bài, tóm lại một câu: Suy nghĩ không tà dâm.)
Cung nhi vô lễ tắc lao, thận nhi vô lễ tắc xỉ, dũng nhi vô lễ tắc loạn, trực nhi vô lễ tắc絞...
Khổng Tử vị Quý Thị: Bát dật vũ ư đình, thị khả nhẫn dã, thục bất khả nhẫn dã.
Tử viết: Thượng hảo lễ, tắc dân dịch sử dã.
Tử tại Tề văn Thiều, tam nguyệt bất tri nhục vị. (Khổng Tử ở nước Tề nghe nhạc Thiều, ba tháng không biết vị thịt.)
Nhân nhi bất nhân, như lễ何? Nhân nhi bất nhân, như nhạc何?
Về Chính trị
Đạo thiên thừa chi quốc, kính sự nhi tín, tiết dụng nhi ái nhân, sử dân dĩ thời.
Vi chính dĩ đức, thí như bắc thần, cư kỳ sở nhi chúng tinh cộng chi. (Làm chính trị bằng đức, giống như sao Bắc Đẩu ở nguyên một chỗ mà các ngôi sao chầu về.)
Lâm chi dĩ trang, tắc kính; hiếu từ, tắc trung; cử thiện nhi giáo bất năng, tắc khuyến.
Quân sử thần dĩ lễ, thần sự quân dĩ trung.
Dân khả sử do chi, bất khả sử知 chi.
Tự cổ giai hữu tử, dân vô tín bất lập. (Tự cổ ai rồi cũng chết, dân không có lòng tin thì nhà nước không thể đứng vững.)
Tiên hữu ty,赦 tiểu quá, cử hiền tài.
Danh bất chính tắc ngôn bất thuận... Ngôn bất thuận tắc sự bất thành... (Danh không chính thì lời không thuận, lời không thuận thì việc không thành...)
Kỳ thân chính, bất lệnh nhi hành; kỳ thân bất chính, tuy lệnh bất tòng.
Bất oán bần nhi oán bất quân...
Mẫn nhi hảo học, bất xỉ hạ vấn. (Nhanh nhẹn hiếu học, không lấy làm hổ hèn khi hỏi người dưới.)
TRANG 3: TỔNG HỢP CÁC CÂU MẠNH TỬ & LUẬN NGỮ KHÁC
(Danh sách ghi nhận thêm các câu nói nổi tiếng về Nhân cách, Đạo lý đời sống):
"Quân tử học đạo tắc ái nhân, tiểu nhân học đạo tắc dịch sử dã."
"Phạn sương thực ẩm thủy, khúc quăng nhi chẩm chi, lạc diệc tại kỳ trung hĩ. Bất nghĩa nhi phú thư quý, vu ngã như phụ vân." (Ăn cơm lạt, uống nước bã, gối đầu lên cánh tay co lại, niềm vui cũng ở trong đó. Giàu sang mà bất nghĩa, đối với ta như mây nổi.)
"Thất giả bất khả gián, lai giả do khả truy."
"Tri kỳ bất khả vi nhi vi chi." (Biết là không thể làm được mà vẫn làm.)
"Quá nhi bất cải, thị vị quá hĩ." (Có lỗi mà không sửa, đó mới thật là lỗi.)
"Thỉ dữ văn hội hữu, dĩ hữu phụ nhân." (Quân tử dùng văn chương để hội tụ bạn bè, lấy bạn bè để giúp bồi đắp lòng Nhân.)
"Tử sinh hữu mệnh, phú quý tại thiên." (Sống chết có số, giàu sang do trời.)
TRANG 4: TIẾT THỨ HAI - MẠNH TỬ
Mạnh Tử (Khoảng 372 TCN - 289 TCN), họ Cơ, tộc Mạnh, tên Kha, tự Tử Dư, người nước Trâu thời Chiến Quốc (nay là thành phố Trâu Thành, tỉnh Sơn Đông). Ông là nhà tư tưởng, nhà giáo dục vĩ đại, đại biểu tiêu biểu của học phái Nho gia, đời sau tôn xưng là "Á Thánh", cùng với Khổng Tử được gọi chung là "Khổng Mạnh". Mạnh Tử kế thừa học thuyết Nhân nghĩa của Khổng Tử, nỗ lực chuyển hóa lý luận chính trị Nho gia thành chủ trương trị quốc cụ thể. Tác phẩm 《Mạnh Tử》 do ông cùng các đệ tử ghi chép biên soạn.
TÁC PHẨM TUYỂN ĐỌC: ĐIÊN DỤ CỦA MẠNH TỬ
Nguyên văn: 孟子曰:“天时不如地利,地利不如人和。三里之城,七里之郭,环而攻之而不胜。夫环而攻之,必有得天时者矣;然而不胜者,是天时不如地利也。城非不高也,池非不深也,兵革非不坚利也,米粟非不多也;委而去之,是地利不如人和也...”
Chú thích:
[1] Thiên thời / Địa lợi / Nhân hòa: Thiên thời là thời cơ đánh trận, thời tiết; Địa lợi là địa hình núi sông hiểm trở, thành cao hào sâu; Nhân hòa là lòng người hướng về, nội bộ đoàn kết.
[2] Tam lý chi thành, thất lý chi quách: Thành nhỏ bên trong gọi là "Thành", thành lớn bên ngoài gọi là "Quách".
[3] Trì: Hào bảo vệ thành.
[4] Binh cách: Vũ khí và áo giáp.
[5] Ủy: Bỏ lại, vứt bỏ.
[6] Thành dân: Ranh giới vây giữ dân chúng.
[7] Phán (畔): Đồng nghĩa với "Phản" (bội phản).
Dịch văn: Mạnh Tử nói: "Thời cơ thuận lợi do trời không bằng địa thế thuận lợi, địa thế thuận lợi không bằng lòng người hòa hợp. Một tòa thành nhỏ ba dặm, thành ngoài bảy dặm, bao vây tấn công mà không thắng. Khi bao vây tấn công chắc chắn đã gặp được thời cơ trời cho; nhưng vẫn không thắng, đó là vì thời cơ trời cho không bằng địa thế thuận lợi. Lại có trường hợp thành không phải không cao, hào không phải không sâu, vũ khí áo giáp không phải không sắc bén chắc chắn, lương thực không phải không nhiều; thế mà vẫn bỏ thành mà chạy, đó là vì địa thế thuận lợi không bằng lòng người hòa hợp. Cho nên nói: Trói buộc dân chúng không dựa vào đường ranh giới; củng cố đất nước không dựa vào sự hiểm trở của núi sông; xưng bá thiên hạ không dựa vào binh khí sắc bén. Người có đạo nghĩa thì được giúp đỡ nhiều, kẻ mất đạo nghĩa thì ít người giúp. Ít người giúp đến mức cực điểm thì ngay cả thân thích cũng phản bội; nhiều người giúp đến cực điểm thì cả thiên hạ đều quy thuận. Lấy sức mạnh của cả thiên hạ quy thuận đánh kẻ mà thân thích cũng phản bội, cho nên người quân tử không đánh thì thôi, đã đánh là thắng."
TRANG 5: BÀI BẮC NGƯ NGÃ SỞ DỤC DÃ (FISH AND BEAR'S PAW)
Nguyên văn: 鱼,我所欲也;熊掌,亦我所欲也。二者不可得兼,舍鱼而取熊掌者也。生,亦我所欲也;义,亦我所欲也。二者不可得兼,舍生而取义者也...
Chú thích trọng tâm:
[1]-[5] Ngư / Hùng chưởng / Xả... thủ...: Cá là món ta muốn, tay gấu cũng là món ta muốn; nếu không thể có cả hai, ta bỏ cá mà chọn lấy tay gấu.
Sống và Nghĩa: Sống ta cũng muốn, Nghĩa ta cũng muốn; không thể có cả hai, ta hy sinh sự sống để giữ lấy Nghĩa (Xả sinh thủ nghĩa).
[28] Giỏ (箪): Đồ đựng cơm hình tròn bằng tre thời cổ.
[29] Đậu (豆): Đồ đựng thức ăn bằng gỗ thời cổ.
[33] Hô nhĩ (呼尔): Quát mắng, coi thường người khác.
[39] Vạn chung (万钟): Bổng lộc cao sang.
[49] Bổn tâm (本心): Bản tính, lương tri bẩm sinh của con người.
Dịch văn:
"Cá là thứ ta muốn, tay gấu cũng là thứ ta muốn; nếu không thể có cả hai thì ta bỏ cá mà chọn lấy tay gấu. Sự sống là thứ ta muốn, Nghĩa cũng là thứ ta muốn; nếu không thể giữ cả hai, ta chấp nhận hy sinh sự sống để trọn lấy Nghĩa... Một giỏ cơm, một bát canh, được ăn thì sống, không được ăn thì chết. Nhưng nếu quát mắng bố thí cho người ta thì người qua đường cũng không nhận; lấy chân đạp lên rồi cho thì kẻ ăn xin cũng coi thường không thèm ăn. Nay bổng lộc vạn chung vinh hoa, nếu nhận mà không phân biệt lễ nghĩa thì bổng lộc ấy thêm gì cho ta? Vì phủ đệ đẹp đẽ, vì thê thiếp hầu hạ, vì muốn người nghèo khổ biết ơn ta mà nhận sao? Trước kia thà chết chứ không chịu nhận sự coi thường, nay lại vì nhà cửa đẹp, vì thê thiếp, vì ân nghĩa cá nhân mà nhận; đó chẳng phải là đã đánh mất đi 'Bản tâm' (Lương tâm bẩm sinh) của mình rồi sao?"