Contribution of logistics on economic growth

  1. @@Ref: Coto-Millán, P., Agüeros, M., Casares-Hontañón, P., & Pesquera, M. Á. (2013). Impact of logistics performance on world economic growth (2007–2012). World Review of Intermodal Transportation Research**,** 4**(4), 300-310.**@@
  • Các yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế, được tính gần đúng bằng sự gia tăng mức sản xuất bình quân đầu người và/hoặc năng suất, đã được phân tích từ các quan điểm lý thuyết khác nhau.
  • Kết quả thu được thông qua các mô hình tăng trưởng nội sinh, họ lập luận rằng các quốc gia hội tụ trong thời gian dài, những đến các vị trí cân bằng có thể cách xa nhau do các đặc điểm khác nhau của chúng.
  • Sử dụng dữ liệu của world bank (2007 - 2012) theo dữ liệu cấp quốc gia. Kết quả thực nghiệm cho thấy cả chỉ số hoạt động logistics (LOG) và các thành phần giải thích tương ứng của logistics (LOG 1 → LOG 6) đều có tác động tích cực đáng kể đến tăng trưởng. Mức tăng 1% trong hoạt động hậu cần mang lại tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong khoảng từ 0,011% đến 0,34%. Tức tích cực và đáng kể.
  1. @@G. p. Cheng, W. Liu, C. w. Xie and J. y. Zhou, "The Contribution of Logistics Industry to Economic Growth Based on Logis Model," 2010 International Conference of Information Science and Management Engineering**, Shaanxi, China, 2010, pp. 489-492, doi: 10.1109/ISME.2010.127.**@@
  • Sử dụng phương trình Log hay còn gọi là mô hình Verhulst hoặc đường cong tăng trưởng logistics, là một mô hình tăng trưởng dân số được xuất bản lần đầu tiên bởi Pierre Verhulst (1845). Mô hình này liên tục theo thời gian nhưng một số sửa đổi của phương trình liên tục thành phương trình lặp lại bậc hai rời rạc được gọi là bản đồ logistics cũng được sử dụng rộng rãi. (Logistic equation (sometimes called the Verhulst model or logistic growth curve) is a model of population growth first published by Pierre Verhulst (1845). The model is continuous in time, but a modification of the continuous equation to a discrete quadratic recurrence equation known as the logistic map is also widely used.)
  • Với sự phát triển của hội nhập kinh tế vùng, ngành logistics dần trở thành ngành cơ sở quan trọng và là điểm tăng trưởng kinh tế mới. Đóng góp của vùng logistics vào tăng trưởng kinh tế chủ yếu thực hiện: một mặt, khu vực trước có thể kích thích và thu hút sự phát triển của vùng sau; Mặt khác, logistics có chức năng bảo vệ nền tảng cho nền kinh tế khu vực và có thể dẫn dắt sự phát triển của các ngành công nghiệp khác.
  • Theo đường cong Logistics, với GLOG tăng dần, thậm chí được tính đến vô cùng, GDP đang dần tiến đến ranh giới vô hạn. Nói cách khác, hiệu quả thúc đẩy của ngành logistics sẽ luôn trải qua quá trình: giai đoạn tăng trưởng chậm, giai đoạn tăng trưởng nhanh, tăng trưởng giảm tốc sang giai đoạn ổn định. Trong giai đoạn cuối, trạng thái ổn định dần dần đạt đến GDP xác định, được gọi là bão hòa giá trị, theo sau đó là tác động ngày càng suy yếu lên GDP. Đặc điểm rõ ràng nhất của nó là sự hình thành quy mô cụm ở tỉnh Hà Nam (TQ). Sự hình thành cụm hậu cần đặc biệt bằng thực thẩm, vật liệu xây dựng, nguyên liệu hóa học đã xuất hiện ở HN và cụm này thể hiện tính kinh tế theo quy mô.
  1. @@Duzbaievna Sharapiyeva, M., Antoni, A., & Yessenzhigitova, R. (2019). The impact of port transport-logistics infrastructure and LPI for economic growth: on the example of landlocked countries. Pomorstvo, 33(1), 63-75.@@
    • Lịch sử phát triển của các thành phố cũng cho thấy tăng trưởng kinh tế đặc biệt đáng chú ý ở các thành phố có cảng biển (Chan và cộng sự, 2014) (Chan et al., 2014). Tuy nhiên, việc thiếu cảng biển đã tạo ra một số vấn đề chưa được giải quyết. Những loại vấn đề mà các quốc gia không giáp biển gặp phải đều có các giải pháp thiết thực, cũng như các cách tiếp cận thích hợp để tạo hành lang quá cảnh, các hoạt động chung để phát triển hội nhập khu vực, cải cách quy định, cơ chế bảo vệ quốc tế đặc biệt, cũng như phân tích sâu về cơ cấu ngoại thương của từng quốc gia không giáp biển và sự tương xứng của nó đối với những khó khăn về giao thông.
    • Đất nước có một cơ sở hạ tầng cần thiết, tức là đường bộ và đường sắt, cảng, thì thực tế của vấn đề liên quan đến khoảng cách địa lý sẽ thấp hơn nhiều. Mặt khác, điều này đòi hỏi sự hợp tác với quốc gia quá cảnh. Ex: Để tăng cường xuất nhập khẩu sang Ruanda và Uganda, cần phải hiện đại hóa hệ thống đường sắt ở Kenya.
    • Các chiến lược tăng tưởng kinh tế chính của các nước đang phát triển là sản xuất hoặc lắp ráp xuất khẩu chuyên sâu.
    • Sử dụng phương trình cấu trúc SEM.
    • Chỉ số LPI đo lường hiệu quả của dịch vụ hậu cần ở cấp quốc gia, yêu cầu các nhà khai thác địa phương (công ty giao nhận toàn cầu và hãng vận tải đường bộ) cung cấp phản hồi về “sự thân thiện” của dịch vụ hậu cần tại các địa phương mà họ đang hoạt động.
    • Chất lượng hạ tầng cảng có tác động tích cực đến nền kinh tế quốc dân. Tác động của chất lượng cơ sở hạ tầng cảng biển và hiệu quả logistics đối với nền kinh tế quốc gia đã được ghi nhận là đáng kể. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra chất lượng