Notes on Imagined Communities
- Những cộng đồng tưởng tượng: Suy nghĩ về nguồn gốc và sự lan truyền của chủ nghĩa dân tộc
- Tác giả: Benedict Anderson
- Dịch giả: Nguyễn Thu Giang - Vũ Đức Liêm - Phạm Văn Thủy - Nguyễn Thanh Tùng
- Hiệu đính: Nguyễn Thu Giang - Nguyễn Tô Lan
Tác giả Benedict Anderson (1936-2015)
- Sinh tại Côn Minh, Trung Quốc, trong gia đình người Ireland và Anh.
- Tránh Thế chiến II, chuyển đến California (Hoa Kỳ) năm 1941, sau đó trở về Ireland năm 1945.
- Tốt nghiệp Đại học Cambridge (Vương quốc Anh), tiến sĩ ngành Chính trị học và nghiên cứu Đông Nam Á tại Đại học Cornell (Hoa Kỳ).
- Nghiên cứu chuyên sâu về Indonesia, Thái Lan và Philippines.
- Thành thạo nhiều ngôn ngữ: Latin, Hy Lạp, Hà Lan, Đức, Tây Ban Nha, Nga, Pháp, Indonesia, Java, Tagalog, và Thái.
- Các tác phẩm: Java trong thời đại cách mạng, Ngôn ngữ và quyền lực: Khảo cứu văn hóa chính trị Indonesia, Bóng ma của sự so sánh: Chủ nghĩa dân tộc, Đông Nam Á và thế giới.
Lời nhà xuất bản
- Công trình Những cộng đồng tưởng tượng của Benedict Anderson bàn về nguồn gốc, sự lan truyền, và ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc.
- Được đánh giá cao: “có ảnh hưởng nhất bàn về nguồn gốc của chủ nghĩa dân tộc”, “một điển phạm”, “đã làm thay đổi nghiên cứu về chủ nghĩa dân tộc”.
- Phạm Quang Minh nhận định cuốn sách có “những đóng góp khoa học không thể phủ nhận”.
- Bản dịch tiếng Việt dựa trên nguyên bản tiếng Anh tái bản năm 2006, bổ sung vào danh sách hơn 30 bản dịch trên thế giới.
- Cuốn sách được xuất bản lần đầu năm 1983 và kết thúc ở chương 9 “Thiên sứ của lịch sử”.
- Tái bản năm 1991 có chỉnh sửa và mở rộng, bổ sung chương 10 về mối quan hệ giữa nhà nước thực dân và quá trình hình thành dân tộc, và chương 11 về vai trò của kí ức và quên lãng.
- Tái bản lần thứ ba năm 2006, tác giả bổ sung chương “Du hành và lưu chuyển: về địa-tiểu sử của Những cộng đồng tưởng tượng”.
- Nhà xuất bản lưu ý rằng nội dung cuốn sách thể hiện quan điểm riêng của tác giả, không phản ánh quan điểm của Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, người dịch, người hiệu đính, người giới thiệu hay Hội đồng thẩm định.
- Kế hoạch dịch và xuất bản triển khai từ năm 2014.
- Nhà xuất bản cảm ơn Benedict Anderson, Nhà xuất bản Verso, nhóm dịch giả và hiệu đính, Hội đồng thẩm định chuyên môn, và GS.TS. Phạm Quang Minh.
- Nhà xuất bản mong bạn đọc tiếp nhận cuốn sách trên tinh thần khoa học, tự chủ và có ý thức phê phán.
Lời giới thiệu
- Cuốn sách là nỗ lực lớn của nhóm dịch giả Nguyễn Thu Giang, Vũ Đức Liêm, Phạm Văn Thủy và Nguyễn Thanh Tùng.
- Anderson thừa nhận những xung đột vũ trang những năm 1978-1979 ở Đông Dương là "duyên cớ trực tiếp" cho sự ra đời của bản thảo.
- Anderson cho rằng nguyên nhân của cuộc chiến này nằm trong tầng sâu của lịch sử - đó là chủ nghĩa dân tộc, chứ không phải là vấn đề ý thức hệ hay địa chính trị.
- Anderson tập trung nghiên cứu về chủ nghĩa dân tộc, nguồn gốc và sự lan truyền của nó, đánh giá tác động của nó đối với thế giới hiện đại.
- Anderson đề xuất khái niệm dân tộc là “một cộng đồng chính trị tưởng tượng - và được tưởng tượng như vốn dĩ vừa hữu hạn vừa có chủ quyền”.
- Anderson theo học ở Đại học Cambridge và tốt nghiệp trường này khi mới 21 tuổi.
- Nghiên cứu của ông và các đồng nghiệp về cuộc đảo chính quân sự năm 1965 đã trở nên nổi tiếng với tên gọi "Tài liệu Cornell".
- Cuốn sách đóng góp về tính không gian, khi Benedict Anderson đề xuất luận điểm dân tộc là một cộng đồng tưởng tượng.
- Dân tộc thường được xây dựng trong một quá trình phổ biến, thông qua đó công dân của quốc gia đó cùng nhau chia sẻ niềm tin, thái độ, nhận thức về một cộng đồng quốc gia dân tộc chung và quốc tịch chung, mặc dù họ không hề gặp nhau, không hề biết nhau.
- Dân tộc được tưởng tượng dường như bị giới hạn vì có một dân tộc tức là cũng có tồn tại những dân tộc khác.
- Khái niệm dân tộc được hình thành vào cuối thế kỉ XVIII như là một cấu trúc xã hội để thay thế các chế độ quân chủ, trật tự xã hội nặng về tôn giáo trước đây.
- Anderson đã chứng minh vai trò quan trọng của "thế hệ người creole tiên phong" trong việc phát triển của chủ nghĩa dân tộc ở cả Bắc và Nam Mĩ.
- Anderson còn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của "chủ nghĩa tư bản in ấn" trong việc tạo ra một cảm giác trải nghiệm dân tộc cho mọi người.
- Công trình của Anderson cũng bị phê phán ở một số luận điểm.
- Đã nhấn mạnh quá mức vai trò của chủ nghĩa thực dân.
- Đã đề cao quá mức chủ nghĩa nam quyền.
- Sự tưởng tượng mà Anderson đặt ra chỉ là giả mạo.
- Cuốn sách Những cộng đồng tưởng tượng của Anderson là công trình giúp chúng ta nhìn nhận lại những vấn đề về nguồn gốc, điều kiện, sự hình thành chủ nghĩa dân tộc Việt Nam.
- Những phân tích, lí giải của Anderson về mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ tạo ra sự tranh luận sôi nổi.
- căn tính dân tộc không phải là một yếu tố được hình thành một cách khách quan, lịch sử, không phải là kết quả của sự tồn tại của một cộng đồng người trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể, mà là các yếu tố được “kiến tạo” ra, được tưởng tượng nên, dưới sự chi phối của quyền lực.
Lời người dịch
- Trong ấn bản năm 2006, Anderson nhắc tới sự vắng mặt của bản dịch tiếng Việt với hàm ý mong chờ.
- Sự chậm trễ về dịch thuật cho thấy quá trình vượt khỏi “sự cô lập tương đối về học thuật” sau những năm tháng chiến tranh là chưa dễ dàng.
- Cuốn sách đã trở thành một điều kiện khả thể về mặt tri thức cho sự ra đời của một lĩnh vực truy vấn mới đối với một vấn đề tưởng như đã cũ.
- Cuốn sách chủ yếu bàn về lịch sử này lại giúp cung cấp những chỉ báo về tương lai cũng sâu sắc không kém sự khai mở về quá khứ.
- Những cộng đồng tưởng tượng như một lời dự đoán thiên tài về mối quan hệ lâu đời, dai dẳng và đầy thăng trầm giữa chủ nghĩa tư bản, sự phát triển của truyền thông đại chúng, tính bá quyền của phương Tây, và các ván bài quyền lực ở tầm cấp toàn cầu.
- Tầm quan trọng không thể chối cãi của cuốn sách bắt nguồn chính từ việc nó đã khơi ra những cuộc tranh luận đa dạng và đầy tinh thần phê phán về chủ nghĩa dân tộc.
- Việc truy tìm lại một “bản sắc dân tộc” nguyên sơ và nằm ngoài lịch sử luôn là một thực hành quyền lực, dù là tự giác hay phi tự giác.
- Nhóm dịch giả nỗ lực duy trì trong khuôn khổ bản dịch một hệ từ vựng thống nhất để độc giả tiện theo dõi.
- chúng tôi chọn dịch “nation” thành “dân tộc” trên toàn văn bản.
- Để tránh gây nhầm lẫn giữa “ethnicity” và “nation”, chúng tôi dịch “ethnicity” là “tộc người”.
- Từ “state” luôn được dịch là “nhà nước” thay vì “quốc gia”; còn từ “đất nước/nước” được dành để dịch “country”.
- Với các thuật ngữ khác như khái niệm “creole” (giữ nguyên không dịch) và “ocial nationalism” (dịch thành “chủ nghĩa dân tộc nhà nước”), chúng tôi có giải trình cụ thể khi những thuật ngữ này lần đầu tiên xuất hiện trong bản dịch.
- Anderson thường xuyên trích lại thơ văn, công trình nghiên cứu và phát ngôn bằng những ngôn ngữ khác mà không dịch ra tiếng Anh.
- Đó là chưa kể tới một lượng lớn các từ ngữ không phải tiếng Anh được đan cài trong các câu văn của Anderson.
Lời cảm ơn của tác giả
- Quan niệm của tôi về chủ nghĩa dân tộc chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các công trình của Erich Auerbach, Walter Benjamin, và Victor Turner.
- Trong thời gian chuẩn bị cho cuốn sách này, tôi đã nhận được rất nhiều lời phê bình và chỉ dẫn hữu ích từ em trai tôi Perry Anderson, cũng nhưAnthony Barnett, và Steve Heder.
- Các tác phẩm của Walter Benjamin, Daniel Defoe cũng có ảnh hưởng đến cuốn sách.
- Tôi là một chuyên gia về Đông Nam Á. Sự thừa nhận này có thể giúp lí giải một số thiên kiến cũng như cách lựa chọn ví dụ trong cuốn sách, và cũng giúp giảm bớt kì vọng rằng cuốn sách sẽ có tính phổ quát toàn cầu.
Lời tựa cho ấn bản lần thứ hai
- Cuộc xung đột vũ trang năm 1978-1979 ở Đông Dương là sự kiện tạo duyên cớ trực tiếp cho bản thảo đầu tiên của Những cộng đồng tưởng tượng.
- Năm 1983, tôi đã viết rằng, Liên Xô chính là “người thừa kế các nhà nước vương triều tiền dân tộc thế kỉ XIX chẳng kém việc nó là tiền bối của một trật tự quốc tế chủ nghĩa vào thế kỉ XXI”.
- Một phần nhờ vào những công trình này, chúng ta đang chứng kiến sự nở rộ của các nghiên cứu lịch sử, văn học, nhân học, xã hội học, nữ quyền luận, và nhiều nghiên cứu khác nhằm kết nối đối tượng nghiên cứu của các lĩnh vực này với vấn đề dân tộc và chủ nghĩa dân tộc.
- Tôi cố gắng thực hiện trong ấn bản lần này đơn thuần chỉ là đính chính lại những lỗi về dữ liệu, khái niệm và diễn giải mà lẽ ra tôi phải tránh được trong quá trình chuẩn bị ấn bản đầu tiên.
- “Người creole tiên phong” đã chiến đấu cho độc lập dân tộc trong các thế kỉ XVIII-XIX cũng là những người có cùng tổ tiên, ngôn ngữ, truyền thống với những người đã xâm chiếm thuộc địa mà họ phản đối.
Chương 1. Dẫn nhập
- Những cuộc chiến gần đây giữa Việt Nam, Campuchia và Trung Quốc, lần đầu tiên chiến tranh nổ ra giữa những chế độ cách mạng, và không bên nào biện minh cho việc đổ máu từ quan điểm Marxist rõ ràng.
- Eric Hobsbawm khẳng định “các phong trào và nhà nước Marxist có xu hướng mang tính dân tộc, không chỉ ở hình thức mà ở cả bản chất, tức là, đã mang tính dân tộc chủ nghĩa. Không có gì cho thấy xu hướng này sẽ không tiếp tục”.
- Từ đó, các nhà nghiên cứu Tom Nairn cũng nhận xét rằng “Lí thuyết về chủ nghĩa dân tộc cho thấy sự thiếu sót lớn về mặt lịch sử của chủ nghĩa Marx”.
- Mục tiêu của cuốn sách này là đưa ra một vài gợi ý thăm dò cho một diễn giải thỏa đáng hơn về “điều dị thường” mang tên chủ nghĩa dân tộc.
- “tính dân tộc” [nationality], hay "thể tính dân tộc" [nation-ness] cũng như “chủ nghĩa dân tộc” [nationalism], là những tạo phẩm văn hóa [cultural artefact] đặc thù.
Chương 2. Cội rễ văn hóa
- Không có biểu tượng nào gắn với chủ nghĩa dân tộc hiện đại lại có sức cuốn hút hơn các đài tưởng niệm và phần mộ của những Người lính Vô danh.
- Các công trình tưởng niệm này nhận được sự tôn kính công khai chính vì người ta cố ý để chúng trống rỗng, hoặc chẳng ai biết danh tính của người nằm trong mộ.
- dù cho danh tính của những nắm xương trần tục hay của những tâm hồn bất tử chôn cất trong những ngôi mộ này bị khuyết đi, thì bên trong chúng vẫn chất chứa trí tưởng tượng về dân tộc như một bóng ma ám ảnh.
- Nếu nhìn từ góc độ này, trí tưởng tượng dân tộc chủ nghĩa có một mối liên hệ chặt chẽ với trí tưởng tượng tôn giáo.
- Sự tồn tại phi thường qua hàng ngàn năm của Phật giáo, Thiên Chúa giáo, và Hồi giáo trong rất nhiều thực thể xã hội khác nhau là bảo chứng cho giá trị của những lời giải thích sáng tạo mà tôn giáo cung cấp trước những gánh nặng đau khổ quá sức chịu đựng của con người - bệnh tật, tổn thương, đau buồn, tuổi già, và cái chết.
- Thế kỉ XVIII ở Tây Âu không chỉ đánh dấu bình minh của thời đại dân tộc chủ nghĩa mà còn cả hoàng hôn của các dạng thức tư tưởng tôn giáo.
- Khi sự cứu rỗi trở nên phi lí, người ta càng cần hơn một cách lí giải khác về sự tiếp nối của cuộc sống.
- Nếu như nhà nước-dân tộc được thừa nhận rộng rãi là điều gì đó “mới” và “có tính lịch sử”, thì các dân tộc mà nhà nước ban cho sự biểu đạt về mặt chính trị luôn hiện ra từ một quá khứ xa xưa, và quan trọng hơn nữa, luôn vươn tiếp vào tương lai vô tận.
Chương 3. Nguồn gốc của ý thức dân tộc
- Nếu sự phát triển của ấn phẩm-như-hàng hóa là chìa khóa cho việc nảy sinh ra những ý niệm hoàn toàn mới về tính đồng thời, thì vẫn vậy, chúng ta mới đơn thuần dừng lại ở khả thể của kiểu cộng đồng “có tính thế tục hướng ngang và tính thời gian phẳng” [horizontal-secular, transverse-time].
- Chủ nghĩa tư bản in ấn tạo ra những lĩnh vực thống nhất cho hoạt động trao đổi và truyền thông bên dưới ngôn ngữ viết Latin và bên trên các khẩu ngữ địa phương.
- Trong quá trình này, họ dần có ý thức về hàng trăm nghìn, thậm chí hàng triệu người cùng thuộc về một địa hạt ngôn ngữ cụ thể với họ, và đồng thời, chỉ hàng trăm nghìn, hay hàng triệu người đó mới thuộc về cái địa hạt ấy mà thôi.
- Chủ nghĩa tư bản in ấn đưa lại một sự cố định mới cho ngôn ngữ, điều sau này giúp tạo dựng hình ảnh về tính cổ xưa, thứ có vai trò chính yếu đối với ý niệm chủ quan về dân tộc.
Chương 4. Người creole tiên phong
- Các nhà nước mới thành lập ở châu Mĩ vào cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX thu hút mối quan tâm đặc biệt, bởi không thể giải thích được chúng bằng hai nhân tố vẫn thống trị cách suy nghĩ hẹp hòi của người châu Âu về sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc, có lẽ bởi cả hai nhân tố này được rút ra một cách dễ dãi từ chủ nghĩa dân tộc châu Âu giữa thế kỉ XIX.
- Khi chúng ta nghĩ đến Brazil, Hoa Kì hay những thuộc địa cũ của Tây Ban Nha, thì ngôn ngữ không phải là yếu tố giúp phân biệt chúng khỏi đế chế chính quốc.
- Ở Trung và Nam Mĩ, “tầng lớp trung lưu” kiểu châu ÂU là không đáng kể vào cuối thế kỉ XVIII. Tầng lớp trí thức cũng chẳng có gì mấy.
- Nhân tố then chốt trước tiên thôi thúc việc giành độc lập từ Madrid trong những trường hợp quan trọng như Venezuela, Mexico, và Peru lại chính là nỗi lo sợ trước các cuộc vận động chính trị của “tầng lớp dưới” - tức những cuộc nổi dậy của người Anh Điêng hoặc nô lệ da đen.
Chương 5. Ngôn ngữ cũ, mô hình mới
- giai đoạn 1820-1920, điều đã làm thay đổi diện mạo của Cựu Thế giới, chúng ta sẽ thấy có hai đặc điểm nổi bật giúp phân biệt chúng với những tiền thân của chúng.
- Ở hầu hết các dạng chủ nghĩa dân tộc mới này, “ngôn ngữ in ấn quốc gia” có tầm quan trọng then chốt về mặt chính trị và ý thức hệ.
- Tất cả đều có thể vận hành dựa trên những mô hình hữu hình do những tiền thân xa xôi cung cấp.
- Vậy nên, ngay từ đầu, “dân tộc” đã là một thứ gì đó đáng để vươn tới một cách tự Giác, hơn là một khuôn khổ tầm nhìn được hình thành chậm chạp theo thời gian.
- Johann Gottfried von Herder tuyên bố vào cuối thế kỉ XVIII rằng: “Denn jedes Volk ist Volk; es hat seine National Bildung wie seine Sprache” [“Vì mỗi dân tộc là một dân tộc, nên nó có văn hóa dân tộc của mình và ngôn ngữ riêng của mình” - tiếng Đức trong nguyên bản].
- Trong phạm vi thời gian này, “thế giới” êm trôi vững vàng về phía trước.
Chương 6. Chủ nghĩa dân tộc nhà nước và chủ nghĩa đế quốc
- Trong suốt thế kỉ XIX, đặc biệt là nửa cuối, cuộc cách mạng từ điển-ngữ văn và sự trỗi dậy của các phong trào dân tộc chủ nghĩa nội-Âu - những hiện tượng không chỉ là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản mà còn của căn bệnh chân voi nơi các nhà nước vương triều - đã gây khó khăn ngày một lớn về mặt văn hóa, và do đó, cả mặt chính trị cho nhiều vị vua. Vì như chúng ta đã thấy, tính hợp thức căn bản của phần lớn các triều đại này không liên quan gì đến tính chất dân tộc
- Chúng ta thấy xuất hiện một xu hướng rõ ràng khi các nền quân chủ ở châu Âu-Địa Trung Hải rụt rè ngả theo sự vẫy gọi của lối định dạng dân tộc [national identication].
Chương 7. Làn sóng cuối cùng
- Hội Quốc liên nơi những dân tộc không thuộc châu Âu chẳng còn phải đứng ngoài
- Các nhà nước mới ở giai đoạn sau Thế chiến II có đặc trưng riêng - điều không thể hiểu rõ nếu không xem xét trên cơ sở tính kế tục từ các mô hình chính trị
- Trong những chính sách “xây dựng dân tộc” [nation-building] của các nhà nước mới, người ta thường thấy cả lòng nhiệt thành dân tộc chủ nghĩa đại chúng
- Lối tiếp cận mà tôi đặt ra có lẽ sẽ bớt trừu tượng hơn nếu chúng ta chuyển sang xem xét kĩ bốn tiểu thuyết đến từ những nền văn hóa khác nhau và những thời đại khác nhau.
Chương 8. Chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc
- Ở những chương trước, tôi đã cố gắng phác họa quá trình mà qua đó dân tộc được tưởng tượng ra, và một khi đã vậy, nó được phỏng theo, cải biên, và chuyển hóa.
- dân tộc truyền cảm hứng cho tình yêu, và thường là tình yêu tha thiết, tự nguyện hi sinh.
- Các sản phẩm văn hóa của chủ nghĩa dân tộc - thi ca, văn chương, âm nhạc, và nghệ thuật tạo hình - thể hiện tình yêu này một cách rõ ràng theo hàng nghìn hình thức và phong cách khác nhau.
Chương 9. Thiên sứ của lịch sử
- Chúng ta bắt đầu nghiên cứu ngắn gọn này bằng các cuộc xung đột gần đây giữa Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Cambodia Dân chủ [Khmer Đỏ] và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, nên cũng phù hợp khi cuối cùng chúng ta lại quay về điểm xuất phát.
- Cặp ý niệm đó là: Cách mạng và chủ nghĩa dân tộc.
- Những điều kiện này được đáp ứng đầy đủ tại châu Mĩ ở mức độ chưa từng thấy. “các phong trào chống phá ngoại bang”…
Chương 10. Điều tra dân số, bản đồ, bảo tàng
- Sự liên kết giữa bản đồ và quyền lực cứ thế hình thành. Bản đồ giờ đây trở nên thiết yếu cho các bộ máy hành chính lẫn quân sự, để củng cố những tuyên bố của họ…
- Ở Đông Nam Á, nửa sau thế kỉ XIX là thời kì vàng son của các nhà trắc địa quân sự - trước tiên là thực dân, sau đó là người Thái. Về mặt lịch sử mà ở đó bản thân, “Siam Mapped” đã viết nên các công thức dân.
Chương 11. Kí ức và lãng quên
- Trong chương cuối cùng này, phần quan trọng nhất vẫn là làm phong bế thêm việc tự do các thể thiết lập với nhiều di tích, chúng dường như các thế giới làm và chia tách về phía trước được biết có không giới hạn nhưng thực.
Du hành và lưu chuyển: về địa-tiểu sử của Những cộng đồng tưởng tượng
- Giờ đây, gần một phần tư thế kỉ đã trôi qua kể từ ấn bản lần thứ nhất của Những cộng đồng tưởng tượng, đã tới lúc có thể phác họa lại lịch sử du hành của cuốn sách dưới ánh sáng của chính những chủ đề trung tâm của nó: Chủ nghĩa tư bản in ấn, việc xuất bản lậu theo nghĩa tích cực và ẩn dụ của từ này, quá trình phương ngữ hóa, cũng như cuộc hôn nhân không thể li dị giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế.